Hiển thị các bài đăng có nhãn nhậtbản. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhậtbản. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 12 tháng 6, 2010

Một thoáng Osaka - Nghĩ về thái độ vô cảm ở VN


Tác giả: GS Nguyễn Văn Tuấn

Một trong những “đặc quyền” của giới làm khoa học là được đi đây đi đó, chẳng những chỉ để tiếp thu và trao đổi ý tưởng với đồng nghiệp, mà còn có cơ hội biết thêm một nền văn hóa khác. Đã từ lâu tôi mong ước được dịp ghé thăm nước Nhật, một quốc gia với nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, xứ sở của hoa anh đào; và cũng là nơi tôi có nhiều bạn bè, đồng nghiệp. Đầu năm nay, dịp may đó đã đến: một hiệp hội chuyên môn quyết định tổ chức hội nghị khoa học thường niên ở Osaka, thành phố lớn thứ hai ở Nhật. Thế là tôi có cơ hội làm một chuyến đi với hai chuyện: vừa thực hiện được “mộng ước” chu du, lại vừa có dịp đi làm việc.

Ngắm Nhật…

Chuyến bay mang danh nghĩa Qantas của Úc với mã số QF-373, nhưng trong thực tế do Hãng Hàng không Nhật, Japan Airlines (JAL), đảm nhiệm. Tôi cảm thấy như mình bị Qantas “bán cái” cho JAL, và trong thâm tâm không hài lòng mấy với cách tổ chức này. Thế nhưng có người bạn cho tôi biết đó là một hình thức “Shared flight”, tiết kiệm xăng dầu, và đôi bên (Qantas và JAL) cùng có lợi. Chẳng phải chỉ có giữa Qantas với JAL, mà ngay cả giữa Qantas với Vietnam Airlines cũng có một hợp đồng như thế. Thời đại “rational economics” có khác!



Ấn tượng của tôi về Hãng Hàng không JAL là tiếp viên phục vụ (toàn phụ nữ trẻ, nhìn ai cũng giống ai, chắc là do việc bảo tồn gen của họ quá cao!) vừa xinh gái, vừa cực kỳ lịch sự với hành khách. Tự dưng tôi làm một so sánh với tiếp viên hàng không của Vietnam Airlines và phải ngậm ngùi mà nhận xét rằng tiếp viên của ta còn phải học thêm về tính lịch sự với hành khách.

Về thức ăn trên chuyến bay, JAL chỉ có một món duy nhất: đó là gà rô-ti mà tôi chẳng muốn nhìn đến, chứ nói gì đến ăn (Có ai thích những món ăn trên máy bay với những cái tên nghe rất kêu, nhưng thực tế thì hỡi ơi… phũ phàng làm sao!). Phần lớn các tiếp viên phục vụ nói được tiếng Anh, nhưng khá hạn chế. Tôi nghĩ khả năng tiếng Anh của họ không hơn, nếu không muốn nói là kém hơn, tiếp viên Việt Nam. Có khi họ nói mà tôi phải khá vất vả mới hiểu họ nói gì; ngược lại, họ cũng phải kiên nhẫn để nhìn tôi nói với tay lẫn chân thì họ mới hiểu tôi muốn gì. Sự hạn chế về tiếng Anh còn biểu hiện qua một số biển hiệu trong máy bay. Chẳng hạn như trong một phòng vệ sinh họ đề hàng chữ “Please do not throw foreign articles to the toilet” (“Làm ơn đừng vứt những đồ xa lạ vào bệ xí”)! Chữ “foreign” ở đây rất lạ và không phải là cách nói của người Anh, Mỹ!



Sau gần 10 giờ bay, máy bay bắt đầu hạ cánh xuống Phi trường Quốc tế Osaka/Kansei. Lúc đó là 10 giờ đêm, nên chẳng thấy gì phía ngoài, mà chỉ toàn biển với nước mênh mông. Sau này tôi mới biết phi trường xây ngoài biển, cách đất liền đến 5 hay 6 cây số. Nối giữa đất liền và phi trường là một xa lộ xây trên mặt biển, như hai cây cầu vĩ đại. Nhìn phi trường như một tòa nhà vĩ đại trên biển này, tôi chợt chạnh lòng nghĩ chả biết bao giờ Úc mới có một phi trường như thế (Ở Úc, 20 năm về trước tôi đã nghe giới chính khách Úc nói đến xây một phi trường quốc tế, và nay hơn 20 năm sau, họ vẫn còn đang … nói!). Bạn tôi nói Nhật đang chuẩn bị xây một phi trường như thế (trên biển) tại một thành phố khác ở Nhật.


Vào phía trong phi trường thấy vắng tanh. Nhân viên hải quan làm việc một cách uể oải. Thủ tục hải quan tương đối gọn, và an ninh cũng không quá nặng nề như các phi trường ở Mỹ hay Úc sau ngày 11.09.01. Họ chẳng nhìn chứ nói gì đến xét hành lý! Cô nhân viên hải quan chỉ hỏi tôi một câu cho lấy lệ: “You come from Autralia?” (Ông đi từ Úc đến đây à?). Và thế là tôi ra ngoài phi trường... Lúc đó là khoảng 10giờ30 tối. 




Phố đêm Osaka

Ở ngoài phi trường, tôi lại phải đối phó với vấn đề bất đồng ngôn ngữ. Tôi tìm xe để đi về khách sạn, nhưng chẳng thấy xe taxi đâu cả. Hỏi nhân viên chung quanh thì ai cũng... cười trừ (vì họ không hiểu tiếng Anh và tôi thì mù tịt tiếng Nhật). Nhìn lên các bảng hiệu thì 80% là tiếng Nhật. Tôi than thầm trong bụng: ôi, chả lẽ số mình phải ngủ bờ ngủ bụi tại đây đêm nay sao?!... Nhưng may quá, tôi xông xáo đi hỏi tứ tung thì cũng gặp một hành khách biết tiếng Anh. Anh này chỉ cho tôi cách bấm cái máy tự động chết tiệt kia (toàn tiếng Nhật) để mua vé đi về khách sạn ở trung tâm thành phố. Thực ra, không cần taxi, vì cứ 10 phút thì có một chuyến xe bus (mà họ gọi là “Bus limousine”) rời phi trường đi về thành phố.

Khi lên xe bus, tôi nghe lời hướng dẫn tự động (bằng tiếng Anh!) là hành trình từ phi trường về trung tâm Osaka khoảng 14 phút. Tôi chuẩn bị tinh thần để về khách sạn, nhưng 20 phút, 25 phút, 30 phút… trôi qua, mà xe vẫn chạy bon bon trên xa lộ! Tôi tưởng mình nghe nhầm (tôi nghĩ chắc có vấn đề phát âm ở đây: 14 và 40 rất dễ bị nhầm!). Đến 60 phút sau thì xe bus mới dừng ở bến xe trung tâm Osaka. Trên đường xe chạy, tôi để ý thấy hai bên đường nhiều building mà trong đó vẫn thấy người cặm cụi làm việc ở văn phòng (nên nhớ lúc đó là gần 11 giờ tối). 




Từ bến xe trung tâm Osaka tôi phải tìm taxi đi về khách sạn. Thấy taxi đậu đầy đường, và tài xế người nào cũng mặc veston màu đen, đeo găng tay màu trắng. Khi lên một chiếc taxi, tôi chỉ cho ông tài xế cái tên khách sạn. Ông ta nhìn tôi thân mật và nói tiếng Nhật xí xô xí xào một hồi, tất nhiên là tôi chẳng hiểu gì. Tôi nói lại bằng tiếng Anh: “Tôi muốn đi đến khách sạn này”, và tay chỉ vào tên cái khách sạn trên tờ giấy in ra từ email. Mặc cho tôi nói tiếng Anh, ông trả lời bằng tiếng Nhật. Lại một tràng xí xô xí xào và quơ tay. Nhưng nhìn qua ánh mắt ông, tôi thấy ông ta có vẻ miễn cưỡng chở tôi. Tôi hơi ngạc nhiên, chẳng lẽ ông ta không thích tôi. Nhưng tôi thì kiên trì đòi đi, và có lẽ vì quá chán với cái ông khách quái gở(!) này, nên ông ta cũng chịu chở tôi đi. Chỉ độ 3 phút sau tôi đã đến khách sạn, và chi phí chỉ 60Y, nhưng cộng với chi phí “background” (chi phí cơ bản) là 660Y, tôi phải trả 700Y, tức gần 10 đô-la Úc. Bây giờ thì tôi hiểu sự miễn cưỡng của ông tài xế (và hối hận khi có ý nghĩ ông ta không thích mình), vì ông không muốn tôi tốn đến 700Y cho một chuyến đi mà tôi nên đi bộ! Ôi, thật là bất đồng ngôn ngữ cũng hao tổn túi tiền như bỡn. 


Nhận phòng khách sạn xong đã hơn 11 giờ rưỡi tối. Vì tính ham vui và thấy phố xá vẫn còn đông người, tôi liền xuống đường nhập với đám đông đi dạo phố. Trời gần nửa đêm mà ngoài đường người ta đi lại vẫn đông. Nhiều người, phần lớn là đàn ông, hình như là vừa xong nhiệm sở, và vào nhà hàng ăn uống, phì phèo thuốc lá tứ tung. Tôi lang thang hết đường này sang phố khác, khám phá, mạo hiểm, chụp hình, nhìn, nghe... Nói chung đường phố Osaka chật hẹp, xe đông, nhưng phong cách lái xe không có vẻ “lưu manh” như ở Sydney hay ở một vài thành phố bên Mỹ. Thời tiết lúc đó tương đối ẩm, nhưng không quá ẩm ướt như ở Thái Lan hay Việt Nam.

Cuối cùng thấy đói bụng, tôi mạo hiểm vào một quán nhỏ tí tẹo, chỉ vừa cho 6 người ngồi là cùng, nhưng phần trên lầu chắc rộng hơn. Phía ngoài quán có một cô và một thanh niên khi mới gặp tôi đã gập lưng chào và nói những câu gì nghe như “hự hự” mà tôi đoán chắc có nghĩa “Chào mừng khách”. Phía trong quán, người đầu bếp, đầu quấn khăn màu đen, chân đi đi lại lại nhanh nhẹn, tay làm “phù phép” những cọng mì, còn miệng thì cứ như là hò hét gì đó. Nhìn thấy tôi vào, anh chàng đầu bếp nói một tràng tiếng Nhật (mà nhìn qua ánh mắt tôi nghĩ anh ta đang chào đón tôi). Với ngôn ngữ múa tay, và nụ cười trừ, tôi cũng kêu được một lon bia và món xào bắp cải, rồi một mình nhâm nhi. Hai anh chàng Nhật ngồi bên cạnh, với dáng dấp công chức hay quan to, nhìn tôi mỉm cười một cách thân thiện, nhưng chả nói năng gì được. Cũng là một kinh nghiệm thú vị.

Về đến khách sạn, tôi mới để ý thấy căn phòng 200 đô-la một đêm này thật là chật chội! Chỉ một cái giường nhỏ vừa đủ cho một người ngủ, một cái bàn vừa đủ để cái ti-vi 19 inch, một cái ấm điện nấu nước, và một vài cái ly để uống trà là gần hết chỗ. Cái bàn viết nhỏ tí tẹo, mà chỉ cần đặt cái máy vi tính notebook của tôi lên cũng đã chiếm hơn phân nửa! Vào thám hiểm cái phòng tắm và toilet thì nó còn chật chội hơn nữa! Chật đến nỗi khi ngồi xuống không ngọ ngoạy chân gì được cả. Tuy chật chội thế, nhưng tất cả đều cực kỳ sạch sẽ và ngăn nắp. Tôi thầm bực mình là cái khách sạn như thế này mà tốn đến 200 đô la Úc ư, ở Việt Nam với giá này thì chắc phòng tiện nghi gấp trăm lần. Thôi, biết nói gì đây, mình chỉ ngủ ở đây vài đêm thôi mà, có ăn đời ở kiếp gì đâu mà phải bực mình cơ chứ!

Sáng hôm sau, thức sớm đi họp. Cuộc họp kỳ này chỉ thu hút khoảng 1200 đồng nghiệp từ khắp nơi trên thế giới, kể cả Việt Nam (Con số dự trù là khoảng 2000 người). Ngoài hành lang, có người cho rằng vì Nhật ở xa quá, nên các đồng nghiệp từ Âu châu và Mỹ châu vắng mặt khá nhiều. Nhiều công ty thuốc và công ty công nghệ y học cao của Mỹ và Âu châu cũng vắng mặt (Tuy nhiên, các công ty lớn như MSD, Eli Lilly, Norvatis đều có quầy hàng). Hầu hết các báo cáo của Trung Quốc đều không có ai trình bày, vì chẳng có phái đoàn nào từ Trung Quốc cả! Cũng chẳng thấy báo cáo nào từ Việt Nam. 



Một ngày dài họp hội qua đi. Tối lại, Ban tổ chức có một buổi khai mạc chính thức cho cuộc hội nghị 5 ngày này. Họ cho mời một đoàn múa truyền thống đến biểu diễn trong ngày khai mạc hội nghị. Đoàn múa gồm nam và nữ; nam thì đầu quấn khăn, mặc quần ngắn; nữ thì đội nón dẹp (cạnh nhọn vút trên không) và mặc áo giống như áo người nông dân Trung Quốc hay mặc. Đoàn múa còn có một ban nhạc gồm khoảng chục người. Họ đánh trống, thổi kèn inh ỏi. Điệu múa lúc chậm, lúc nhanh, lúc dồn dập, lúc khoan thai…Hình như diễn viên trình bày một hoạt cảnh nông dân trong xã hội Nhật khoảng trăm năm về trước. Nói chung, tôi không thấy có gì đặc biệt.

Đêm sau là “Japanese Night”, hay “Nhật Dạ”, tức là dành cho Ban tổ chức phô trương văn hóa ẩm thực của người Nhật. Họ mời tất cả các tham dự viên đến một nhà hàng rất lớn ở ngoại ô Osaka để thưởng thức các món ăn Nhật. Những món thịt nướng, rong biển, tofu, bún, mì, v.v... được trưng bày khá đẹp mắt, nhưng thử thức ăn để biết thôi, chứ nói là ngon thì chắc tôi tự dối lòng. Sau ăn uống là một màn trình diễn múa. Lần này họ mời một đoàn nghệ thuật trình diễn hai màn múa rắn và múa cá, kể lại một truyền thuyết về một chàng hiệp sĩ múa kiếm giết con rắn ác ôn chuyên vào làng ăn sống các thiếu nữ. 




Một đêm, tôi được mời đến nói chuyện tại bộ môn Nội tiết học thuộc khoa Y của Đại học Osaka, mà ấn tượng về các nhà khoa học Nhật còn lại trong tôi rất lâu. Buổi nói chuyện diễn ra sau hội nghị, tức khoảng 8 giờ tối, ấy thế mà rất nhiều nhà nghiên cứu, giáo sư và sinh viên tham dự. Nhìn qua hội trường với cả 100 người quả thật làm tôi xúc động, bởi vì nếu ở Úc giờ này chẳng còn ai trong phòng thí nghiệm, nói gì đến các giáo sư! Sau buổi nói chuyện là những trao đổi hào hứng, sôi nổi nhưng lịch sự. Chưa hết, ban tổ chức còn mời tôi đi tham quan một vòng cơ sở nghiên cứu trước khi ra quán ăn và… tranh luận tiếp! Tôi quả thật quí trọng các đồng nghiệp này vì thái độ học hỏi, tinh thần cầu tiến thật sự, chứ không hình thức như ở nước ta.

Lịch sự và rất tận tâm, tận tình

Một tuần ở Osaka, có dịp đi chung quanh thành phố và ngoại ô đã cho tôi một ấn tượng rất tốt đẹp về người Nhật. Họ có vẻ rất sẵn sàng giúp đỡ bất cứ ai đang gặp khó khăn. Một hôm tôi đi lạc đường (đường phố ở Nhật dĩ nhiên là viết bằng tiếng Nhật rất khó đọc), giữa đám đông người qua kẻ lại, tôi chẳng biết hỏi ai, đành liều hỏi… bất cứ ai đi ngang. Ấy thế mà người tôi hỏi đầu tiên, dù đang tất tả đi như chạy, dừng lại lắng nghe tôi (mà tôi biết anh ta cũng không hiểu tôi nói gì) nhưng qua bản đồ anh ta biết tôi muốn đi đâu; anh ta dẫn tôi đến tận đầu đường và cặn kẽ chỉ hướng đi, thậm chí đứng chờ xem tôi đi có đúng hướng không! Ôi, làm sao ở Mỹ và Úc, thậm chí tại quê hương Việt Nam, tôi có một người chỉ đường tốt như thế! Không chỉ người đi đường, mà ngay tại các trạm xe điện, người Nhật cũng tỏ ra rất lịch sự và rất tận tâm, tận tình chỉ dẫn cho những khách như tôi. Âu đó cũng là một nét đẹp trong văn hóa ứng xử mà chúng ta cần phải học từ họ.

Nói về sự hiện đại của hệ thống xe điện của Nhật, tôi chỉ có thể mô tả bằng hai chữ: tuyệt vời. Thật vậy, so với Úc, hệ thống xe điện của Nhật chắc phải đi trước cả 20 năm. Điều làm tôi ấn tượng nhất là dù hệ thống xe điện chằng chịt dưới lòng đất như thế, mà xe chạy rất đúng giờ (chứ không phải như ở Úc: 95% xe điện Úc trễ giờ). Tôi nghĩ cũng là yếu tố con người cả thôi. Quả vậy, tôi thấy thái độ làm việc của người Nhật, từ hàng giáo sư, khoa học gia đến người lái xe điện và người phu quét đường, tất cả đều có vẻ nhận lãnh trách nhiệm của mình một cách nghiêm chỉnh, làm đến nơi đến chốn. 



Khi còn ở khách sạn, mỗi buổi ăn sáng tôi nhìn ra đường phố và chú ý đến một ông phu quét đường mà ấn tượng đẹp về ông tôi vẫn còn giữ mãi. Cứ mỗi sáng, đúng 7 giờ, không biết từ đâu ông đi xe đạp đến, dựng xe đạp vào một nơi dành cho xe đạp xong, ông bắt đầu làm việc. Mà đường xá bên Nhật thì quá sạch, chẳng có gì để ông quét dọn. Ấy thế là ông đi chầm chậm xem xét từng ngõ ngách có gì dơ bẩn không, có bao cao-su nào rớt không, có dấu kẹo sing-gum không…và làm sạch tất cả. Xong một đoạn đường, ông lại đến một đoạn đường khác và làm sạch đường. Nhìn qua thái độ làm việc, ông quả là một người yêu việc làm của mình, tự hào vì thành tích của mình, chẳng hề lộ vẻ đau khổ hay tự ti gì cả. Thật là đáng khâm phục! 




Ngẫm ta…

Chỉ một tuần ở Nhật làm tôi suy nghĩ nhiều về những kinh nghiệm cá nhân ở quê nhà. Báo chí trong nước gần đây có một cụm từ rất hay để mô tả một cái tính rất mới của các nhân viên Việt Nam: vô cảm. Sự phổ biến của tính vô cảm này cực kỳ sâu rộng trong xã hội Việt Nam ngày nay. Đi đến đâu cũng thấy và gặp: nhân viên bán hàng, cán bộ nhà nước, y tá, nhân viên bệnh viện, nhân viên hành chính trong các đại học, v.v… đều biểu hiện thái độ vô cảm, dửng dưng trước khó khăn của khách hàng.

Tôi có nhiều kinh nghiệm về cái tính này, và xin kể ra đây hầu các bạn. Một hôm tôi vào nhà sách Nguyễn Huệ trên đường Nguyễn Huệ ở Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh để tìm mua cuốn sách của tôi cho vài bạn bè. Tôi biết rõ nhà sách có bán sách của tôi, nhưng không biết khu nào. Tôi bèn hỏi cô bán hàng đang xớ rớ trong một quầy sách và hỏi (cho chắc ăn) ở đây có bán cuốn sách đó không. Chẳng cần suy nghĩ, và chẳng cần đi tìm, cô ấy trả lời ngay: không. Tôi nài nỉ cô thử đi tìm xem có không. Cô ta quả quyết là không. Thế nhưng khi tôi đi tìm vài chỗ thì có ngay cuốn sách.

Một hôm khác, tôi có hẹn với một anh bạn là bác sĩ trưởng khoa một bệnh viện lớn tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến bộ môn, loay hoay tìm hoài không thấy, tôi đành phải hỏi một anh nhân viên có vẻ rảnh rỗi (vì anh ta đang chơi games trên máy computer) là có bác sĩ X ở đây không. Anh ta quay lại nhìn tôi một hồi rồi nói: em không biết anh ơi, em chỉ làm hạch toán thu ngân thôi. Tôi nói bác sĩ làm ở khoa này, anh làm ơn hỏi ai xem có anh ấy ở đây không. Trước sự khẩn khoản của tôi, anh ta vẫn thản nhiên nói: em không biết. Sau một hồi gọi điện thoại tôi mới biết văn phòng anh bạn tôi chỉ cách phòng anh chàng thu ngân kia không đầy 5 thước! Khi đã vào và đi ngang chỗ anh chàng thu ngân đó, tôi chẳng thấy anh ta tỏ một thái độ “ăn năn hối lỗi” nào cả. Đúng là vô cảm!



Một hôm tôi chứng kiến một cảnh rất “gai mắt” tại cổng trường Đại học Bách khoa TPHCM. Dưới cái nắng gắt mùa hè Sài Gòn, một anh công nhân nhễ nhại mồ hôi đẩy chiếc xe thủ công chở một đống sắt nặng nề vào cổng trường. Cổng đóng kín. Ba nhân viên bảo vệ đứng đó hút thuốc thơ thẩn nhìn anh công nhân, lúc này đang giơ tay ra dấu xin mở cổng. Cổng vẫn đóng kín. Anh công nhân phải khó nhọc lắm để xuống xe và đến gần nói gì đó xin phép mở cổng. Lúc này, một anh bảo vệ mới kéo lê bước chân đến mở cổng!

Bất cứ ai từng quen sống tương trợ với nhau, và quen với tinh thần thông cảm cho người khó khổ đều rất phẫn nộ trước thái độ vô cảm này. Tôi cũng là một người chịu không nổi thái độ đó nên mới có lần đã nói thẳng rằng tôi không thích thái độ, mà tôi cho là bất nhẫn, của một anh bảo vệ. Tất nhiên, tôi phải gánh chịu những hậu quả bất hợp tác sau này của anh chàng bảo vệ ấy, nhưng tôi không hề thấy hối tiếc về cách tỏ thái độ của mình.

Tôi có một nhận xét chung là thái độ vô cảm thường thấy trong những người có chút chức quyền, như nhân viên bảo vệ, cán bộ công nhân viên nhà nước, những người mà Cụ Hồ thường gọi là “đầy tớ của dân”. Ngày nay, họ chẳng phải là “đầy tớ của dân”, mà là “người đầy khổ dân chúng”. Họ ỷ có chút quyền thế trong tay và ra sức biểu dương quyền lực bằng những bắt chẹt nhỏ nhặt, bắt bẻ từ lời ăn tiếng nói của người dân, và đáng kinh tởm hơn là họ không cảm thấy thông cảm với nỗi khổ của người dân đang rất cần đến dịch vụ của họ. “Vô cảm” quả thật là một cụm từ cực kỳ thích hợp cho những trường hợp này. 




Có thể gọi vô cảm là biểu hiện của hiện tượng mà báo chí gọi là “suy đồi đạo đức” không? Cũng có thể lắm. Nó cũng có thể chính là hệ quả của một nền giáo dục ngày càng đặt nhẹ vấn đề đạo đức xã hội trong giáo dục học đường. Bất cứ lý do gì và nguyên nhân nào, thái độ vô cảm là một tình trạng gây nhức nhối, một căn bệnh “ung thư” đạo đức xã hội cần phải được điều trị ngay.


Tôi lạm nghĩ ở mức độ cá nhân, người Nhật cũng chẳng sáng dạ hơn chúng ta, nhưng ở mức độ tập thể họ rõ ràng là một sức mạnh đáng kể. Và trong tập thể đó, nếu tất cả thành viên trong xã hội đều làm tốt công việc của mình được giao và đối xử với nhau bằng cái tình (Trịnh Công Sơn từng nói một câu chí lý: “sống trong đời sống cần có một tấm lòng”) thì guồng máy xã hội chắc chắn sẽ vận hành tốt. Có lẽ nét văn hóa làm việc này đã đưa Nhật thành một cường quốc như ngày nay. Chúng ta cũng có thể học nét văn hóa đó của người Nhật, mỗi người một việc và làm tốt việc của mình, để góp phần nâng cao tầm vóc nước ta cho xứng đáng với tiềm lực của con người Việt Nam.


Bài đã đăng trên Người viễn xứ 2008

http://nguyenvantuan.net/misc/9-misc/729-mot-thoang-osaka-nghi-ve-thai-do-vo-cam-o-vn-


Chủ Nhật, 28 tháng 12, 2008

Một Thoáng Phù Tang

Đến tham quan Dejima, tôi thấy thêm một lần nữa tinh thần phân tích, suy diễn, cải thiện và khiêm tốn học hỏi của người Nhật đã đưa đất nước này từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu thốn tài nguyên đến địa vị một đế quốc quân sự và sau này một cường quốc kinh tế và khoa học kỹ thuật (...) Buổi chiều hôm đó lành lạnh, có nhiều mây mù và trời lất phất mưa. Tôi bỗng chợt bâng khuâng muốn đứng giữa bến cảng êm đềm hát to bài tình ca của một thời du học, "Nagasaki wa kyo mo ame datta" (Nagasaki trời hôm nay mưa cũng đã rơi)…

Trương Văn Tân



japanCứ mỗi lần trở lại Nhật Bản là tôi có thêm một ấn tượng khác, những ấn tượng này chồng chất lên nhau cho tôi một kết luận là một xã hội văn minh cần xuất phát từ những con người văn minh trong đó dân trí và "quan trí" phải được tôi luyện qua một thời gian dài. Nhưng quá trình "trăm năm trồng người" của Nhật Bản không phải là con lộ du kích "đi tắt đón đầu" mà là một con đường dài lắm chông gai. Thời du học vài thập niên trước của tôi tại Nhật Bản không cho một ấn tượng gì sâu sắc về đất nước Phù Tang này, có lẽ vì thời gian ở đây không đủ dài, cũng như vì chuyện học hành chỉ vùi đầu vào sách vở rồi phải tất bật kiếm sống, cộng thêm một chút ham vui của tuổi trẻ, đã chiếm hết thời gian để có cái nhìn phân tích khách quan về sự hùng mạnh của Nhật Bản trong vài trăm năm qua.

Nhờ vào sự sắp xếp cẩn thận của người thân tại Nhật và internet, chuyến du hành Nhật Bản phần lớn bằng xe lửa siêu tốc Shinkansen đã đưa tôi đi qua hàng ngàn cây số, ngang dọc miền Tây Nam nước Nhật bao gồm ba đảo lớn Honshu, Shikoku và Kyushu. Trong vòng mười ngày, tôi đặt chân đến những thành phố lớn, thị trấn nhỏ, đi tham quan các di tích lịch sử, những khu du lịch thời thượng và đến tận vùng "hoang vu" quê mùa.


Xe lửa siêu tốc Shinkansen


Với cái vé Japan Rail Pass giá đặc biệt cho du khách nước ngoài, người ta có thể dùng xe lửa các loại đi khắp nơi, kể cả xe lửa siêu tốc (bullet train) Shinkansen, với số lần sử dụng vô hạn định trong một thời gian được qui định trước. Có thể nói xe lửa Nhật là một hệ thống giao thông công cộng hoàn hảo bậc nhất thế giới. Giờ đi giờ đến được thiết kế chính xác từng phút và áp dụng nghiêm chỉnh từ xe vài toa chạy chậm ghé từng nhà ga ở vùng quê tới xe lửa siêu tốc Shinkansen đi xuyên qua các thành phố lớn nhỏ ở chốn phồn hoa đô hội.

Xe lửa Shinkansen là một niềm tự hào của người Nhật. Hơn 44 năm qua (từ năm 1964), Shinkansen là một phương tiện di chuyển nhanh được thiết kế chạy trên đường ray cổ điển bình thường và chưa một lần xảy ra tai nạn. Từ đống tro tàn chiến bại của Đệ nhị Thế chiến, chính phủ Nhật Bản đã có một tầm nhìn chiếc lược khôn ngoan là đối với một quốc gia đất hẹp người đông, Nhật Bản cần một hệ thống đường sắt mới (Shinkansen có nghĩa là "tuyến đường mới") cho xe siêu tốc để gia tăng sự di động của dân chúng giữa các thành phố lớn và cũng để kích thích nền kinh tế qua giao thông. Để thực hiện dự án mang tính cách mạng này chính phủ Nhật đã kiên nhẫn thuyết phục Ngân hàng Thế giới cho vay 80 triệu USD (không bị cắt xén vì tham nhũng!) để xây đoạn đường sắt đầu tiên Tokyo - Osaka (600 km) và khánh thành năm 1964 vài tháng trước Tokyo Olympic. Thời gian đi lại giữa hai thành phố này giảm từ 7 tiếng xuống còn 3 tiếng. Ở thập niên 1960, đây là một kỳ tích của thế giới. Trong bốn mươi năm qua, tốc độ của xe Shinkansen tăng từ 200 km/h đến 250 km/h, 280 km/h và bây giờ 300 km/h. Đầu xe bây giờ đa dạng hơn, không còn hình dạng "đầu đạn" nguyên thủy nữa mà trở nên dài ra hình mỏ vịt. Theo sự quan sát của tôi thì đường ray không thay đổi nhưng đầu xe đã được thiết kế nhiều dạng khác nhau để gia tăng hiệu quả khí động lực học làm giảm sức cản không khí (Hình 1).

hinh-1

Hình 1: Xe lửa siêu tốc Shinkansen.

Đứng trên những nhà ga trung tâm như ga Tokyo, cứ năm mười phút là có một chuyến tàu Shinkansen đến hoặc đi, hay trên nhà ga tỉnh lẻ những đoàn tàu siêu tốc sầm sập chạy qua như mũi tên bay, chưa kịp chụp một bức ảnh thì tàu đã lao đi. Trong khoảng thời gian tôi du hành tại Nhật, công ty đường sắt Nhật Bản tuyên bố cho về hưu toàn bộ xe siêu tốc Shinkansen "Hệ Zero" đầu đạn tròn nguyên thủy. Chuyến xe cuối cùng không còn một chỗ trống. Hàng ngàn "fan" đứng đợi tại các nhà ga để từ giã chuyến xe cuối cùng và chụp hình kỷ niệm như là chia tay với một người thân và cũng để cảm tạ sự phục vụ tận tình của Hệ Zero trong 44 năm qua. Tình cảm người Nhật là như vậy.

Lịch sử phát triển đường sắt gắn liền với sự phát triển đời sống của người dân và nền kinh tế Nhật Bản. Cùng một nhịp điệu phát triển với xe siêu tốc Shinkansen, những chuyến tàu chậm địa phương cũng được nâng cấp toàn bộ. Xe lửa Nhật cũng đã có một thời kỳ mông muội sơ khai. Nhớ lại vài thập niên trước, bàn cầu toilet của những chuyến xe lửa nhà quê lên tỉnh chỉ là một lỗ trống thông ra bên ngoài. Có nghĩa là những sản phẩm bài tiết cứ thế đi thẳng xuống đường ray, "gởi gió cho mây ngàn bay". Vì vậy trước khi tàu dừng ở ga, ông trưởng tàu lúc nào cũng ân cần dặn dò hành khách ráng kiên nhẫn ngừng lại những hoạt động bài tiết! Nhưng đây là chuyện của quá khứ. Những chuyến tàu liên tỉnh giờ đây đèn đuốc sáng choang, ghế bọc da đẹp hơn ghế cấp business hàng không, toilet có cửa tự động, sạch sẽ rộng rãi như một en-suit trong khách sạn.


Kochi: Dòng sông xanh


Tôi và người thân đến thành phố Kochi (tỉnh Kochi) trong một ngày nắng ấm. Kochi là một tỉnh phía Nam của đảo Shikoku rất phong phú về nông và hải sản; phía nam nhìn ra Thái bình dương, phía bắc có rừng núi vây quanh. Shikoku là đảo nhỏ nhất trong bốn đảo chính, Honshu, Hokkaido, Kyushu và Shikoku tạo thành nước Nhật. Kochi nổi tiếng với những dòng sông lớn. Nói là sông lớn nhưng đó chỉ là những dòng chảy ngắn và nhỏ khi so với những chi lưu của dòng Mekong. Chúng tôi đến thăm dòng sông Shimanto. Người ta gọi Shimanto là "dòng sông xanh cuối cùng" của nước Nhật vì đây là dòng sông duy nhất không có đập nước. Từ thành phố Kochi đến Shimanto không hơn 120 km nhưng cũng phải vượt qua gần 50 cái đường hầm xuyên chân núi dài ngắn khác nhau, khi vài chục thước khi vài cây số. Dọc hai bên đường ô tô hay xe lửa là những thửa ruộng nhỏ vài chục mét vuông hay nhiều lắm vài hecta nối tiếp nhau bị ngăn chia bởi núi đồi. Địa hình của toàn thể nước Nhật cũng tương tự như vậy với 70 - 80 % bao phủ bởi rừng núi. Những cánh đồng ngút ngàn như đồng bằng sông Cửu Long không hiện hữu trên đất nước cằn cỗi này. Kỹ thuật đào đường hầm hay đào lòng biển của Nhật vì vậy đạt mức hàng đầu thế giới.

Dòng sông này không phải là Vườn quốc gia (National Park) mà chỉ là một nơi bình thường với ngư dân sống lác đác dọc hai bên bờ. Sự hiện đại hóa của nước Nhật để lại rất ít những hình ảnh hoang vu như cảnh vật dòng Shimanto. "Dòng sông xanh cuối cùng" cũng là một con sông ngắn với dòng chảy êm đềm. Ngư dân ở đây vẫn còn giăng lưới bắt cá hoặc lươn, một việc bình thường ở Việt Nam nhưng lại là những cảnh quan hiếm thấy tại Nhật. Cuộc sống bươn chảy, lao lướt của thành phố khiến người Nhật phải tìm đến những miền hoang dã như dòng sông Shimanto để hòa điệu cùng thiên nhiên, tìm về cái yên tĩnh và mộc mạc của nước Nhật 50 hoặc 100 năm trước (Hình 2).



hinh-2

Hình 2: Dòng sông xanh Shimanto.


Chúng tôi thuê một chiếc thuyền đi dọc theo dòng sông. Dòng sông trong xanh trôi nhè nhẹ qua những cây cầu xi măng bắt ngang vừa đủ cho một chiêc xe hơi nhỏ chạy qua. Người dân ở đây gọi những cây cầu này là Chinka-bashi (Trầm hạ kiều = cầu chìm). Tôi tò mò hỏi ông lái thuyền sao gọi là cầu chìm, ông từ tốn trả lời "Dòng sông này mỗi năm ngập 2, 3 lần và ngập luôn cầu nên gọi là cầu chìm". Tôi hỏi tiếp "Sao không làm cao?", "Làm cao tốn kém lại không cần thiết, nếu ngập thì chỉ 2, 3 ngày là nước rút đi". Ông bảo vào năm 2005, một trận lụt khủng khiếp xảy ra, nước dâng cao 20 m chỉ cần thêm 1 m nữa thì tràn qua đê. "Anh có thấy cái nhà hai tầng xa xa đàng kia không?", ông nói, "Mực nước dâng cao qua khỏi nóc nhà đấy!". Cuộc sống hơi khó khăn vì lũ lụt thường xuyên nhưng ông bảo đây là quê hương và ông không muốn bỏ lên thành phố. Mùa Xuân, ngư dân giăng câu thắp những bóng đèn điện nhỏ để bắt lươn con về đêm. Những con lươn con sẽ được nuôi trong hồ cho đến khi trưởng thành. Món lươn nướng khoái khẩu và súp lươn là một đặc sản trong vùng. Mùa Hè, dân thành phố kéo về đây để xem hàng vạn con đom đóm bay xung quanh bụi cây như những cây thông Christmas dọc theo dòng sông. Lâu lắm rồi tôi không nhìn thấy đom đóm và không biết bây giờ còn ở vùng quê Việt Nam?


Kochi: Ôn tuyền lữ quán

Nước Nhật bị công nghiệp hóa và người Nhật bị "stressed" cao độ. Có dịp, họ ùa nhau đi tìm sự thư giãn nơi mà họ có thể "yukkuri dekiru" (được thoải mái). Khi đi du lịch họ trú ngụ ở nhà khách truyền thống gọi là "ôn tuyền lữ quán" (nhà khách với suối nước nóng). Những lữ quán này có phục vụ trọn gói với phòng ngủ chiếu tatami, tắm suối nước nóng, ăn tối và ăn sáng theo phong tục Nhật. An Nam ta có "tứ khoái", nhưng tôi nghĩ Phù Tang hơn ta một "khoái", có đến "ngũ khoái"! Cái khoái thứ năm là thú tắm suối nước nóng. Nằm trong vòng lửa Thái Bình Dương, nước Nhật từ Nam chí Bắc đầy nguồn suối nước nóng, rải rác khắp nơi. Những "ôn tuyền lữ quán" mọc lên ở những địa điểm du lịch tạo ra khu thư giãn cuối tuần hay ngày lễ cho dân thành phố. Đây là nơi những cặp vợ chồng son cũng như những cặp vợ chồng luống tuổi, cụ ông cụ bà, hay là một nhóm đồng nghiệp lui tới cùng nhau thoải mái trong bể suối nước nóng, rồi sau đó tận hưởng các món cá, mực sống sashimi truyền thống, cùng khề khà chén chú chén anh qua cốc rượu sake. Nơi chúng tôi trú ngụ là một "ôn tuyền lữ quán" nổi tiếng Kochi với cái tên rất nên thơ "Thành Tây Quán" (Joseikan).

Các nghi thức hành xử (etiquette) trong bể nước nóng từ xưa đối với người Nhật đã trở thành một qui luật bất thành văn. Nhưng gần đây có lẽ lối thư giãn này hấp dẫn khách nước ngoài nên phải có "qui luật thành văn" phụ đề Anh ngữ, treo ở cửa ra vào. Rằng là bất kỳ nam phụ lão ấu phải hoàn toàn "như nhộng" không được mặc một thứ gì trên người kể cả đồ tắm; rằng là không được ồn ào, không được uống rượu, phải dội nước sạch sẽ trước khi ngâm mình trong bể; rằng là người có máu cao, mang thai chớ có liều lĩnh mà thọt cẳng vào. "Ôn tuyền lữ quán" nơi tôi trú ngụ thuộc hạng 5 sao nên ban quản lý càng chi tiết hơn về vệ sinh cá nhân. Rằng người nào có ghẻ nhọt thì không nên vào, nhưng ai mang bịnh trĩ thì cứ thoải mái không sao!

Bể nước được đặt trong một khoảng không gian rộng rãi, nước suối được mang từ ngoài vào chảy róc rách, được pha với nước lạnh để điều chỉnh nhiệt độ khoảng 42 - 45° C. Tôi tò mò tìm hiểu cái bảng phân tích treo bên cạnh bể; bảng liệt kê các chất khoáng chứa trong nước và các thứ bệnh như đau lưng, đau khớp, phong thấp, tay chân rỉ mồ hôi... mà nguồn suối này có khả năng trị liệu. Tôi từ từ ngâm mình vào nước, vừa lim nhim đôi mắt, vừa lắng tai nghe tiếng nước chảy để gia tăng sự đê mê trong bầu không khí đầy hơi nước, tận hưởng cái cảm giác râm ran của những làn nước nóng tưởng chừng như xuyên qua từng lỗ chân lông, đi vào từng thớ thịt. Bên cạnh cái bể lớn là cái bể nhỏ có cùng một nguồn nước nhưng treo thêm một cái bao rất to, hăng hắc mùi thuốc. Bảng phân tích cho biết cái bao này chứa 10 vị thuốc Bắc như đơn qui, trần bì (vỏ quít), cam thảo, quế, gừng..., chuyên trị năm ba thứ bệnh linh tinh khác. Kiểm điểm lại thì tôi thấy không bị mắc thứ bệnh nào, nhưng tiện chân nhảy vào cho mát da mát thịt. Sau khi tắm và ngâm trong suối nóng, tôi được trao cái áo yukata, một loại kimono nhẹ, mặc qua đêm và dùng cơm tối. Tôi súng sính mặc vào, choàng thêm một cái áo ngắn tay, ngắm tới ngắm lui, đi qua đi lại. Oai phong lắm lắm! Chỉ cần có thêm một búi tóc phía sau và cạo đầu chừa một chỏm tóc phía trước, bên hông vắt theo thanh kiếm dài katana là tôi biến thành samurai của thế kỷ 18!

hinh-3

Hình 3: Sashimi cá ngừ (katsuo),
một đặc sản Kochi.

Triết lý nhân sinh của người Nhật tập trung ở chữ "hòa" (hòa hợp, hòa bình). Sự giao tế giữa con người hay giữa con người với thiên nhiên xoay quanh chữ "hòa". Ngay trong ẩm thực, tôi cũng cảm thấy cái "hòa" khi ăn một miếng sashimi chấm nước tương với wasabi rồi uống một ngụm nhỏ sake (Hình 3, 4). Cái cay nồng của wasabi xông lên mũi chảy nước mắt dường như được "hòa" dịu bằng cái cay của hơi sake hâm nóng. Thêm cái dư âm lâng lâng, sảng khoái còn phảng phất sau cuộc ngâm mình trong bể nước suối "hòa" lẫn cái ngà ngà của men rượu, "mượn ba chén dập dìu trăng gió" [1]. Hai ba cái "khoái" cùng hòa hợp một lúc tạo ra hiệu ứng cộng hưởng đồng loạt (synergetic) cho ta một cảm giác tuyệt vời, không thể nào dùng lời tả hết…


hinh-4

Hình 4: Một phục vụ viên của Thành Tây Quán.


Hiroshima: Bom nguyên tử


Tôi từ giã người thân và từ đảo Shikoku vượt Đại kiều (cầu lớn) Seto được bắc trên năm hòn đảo nhỏ nối liền hai đảo Shikoku và Honshu đi đến thành phố Hiroshima bằng chuyến tàu siêu tốc Shinkansen. Mới hai ngày trước, bầu trời mùa Thu trong xanh ấm áp bao nhiêu, thì bây giờ ảm đạm lạnh lẽo bấy nhiêu. Tôi nhìn bản đồ tìm về hướng Công viên Hòa bình. Ngọn gió đầu Đông mơn man thổi, những chiếc lá vàng bay lả tả như cánh bướm dọc theo một bờ sông nhỏ trong thành phố. Trong khung trời lãng mạn này, bỗng nhiên xuất hiện quang cảnh hoang tàn của tòa nhà bị bom nguyên tử. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử đầu tiên đã nổ trên không cao 600 m trên tòa nhà này, để trơ lại cái vòm sắt và những bức tường đổ nát. Sức nóng tỏa ra từ quả bom làm sạm đen bề mặt bức tường tưởng chừng như mới xảy ra, mặc dù đã hơn 60 năm qua (Hình 5).


hinh-5

Hình 5: Tòa nhà bom nguyên tử (Di sản Thế giới).


Bên kia bờ sông là Công viên Hòa bình với Nhà Bảo tàng Hòa bình lưu trữ hình ảnh, hiện vật và tài liệu về hậu quả của quả bom nguyên tử Hiroshima. Ở giữa công viên, người ta xây một cái vòm tưởng niệm bằng đá hoa cương đơn giản không cao lắm (Hình 6). Đứng nhìn từ xa, cái vòm đá này như bao trọn tòa nhà bị bom ở phía xa xa, như che chở những linh hồn vô tội. Trong vòm đá người ta khắc một hàng chữ Nhật để tưởng nhớ cũng như để nhắn nhủ đến hàng trăm ngàn vong linh chết oan ức: "Xin hãy ngủ yên, vì lỗi lầm này sẽ không bao giờ lập lại".

hinh-6

Hình 6: Vòm tưởng niệm.

Trong cái lạnh cuối Thu, Công viên Hòa bình vẫn không vắng người. Hàng ngàn khách tham quan từ các nơi trên thế giới, những đoàn học sinh tiểu học, trung học từ mọi miền đất nước nườm nượp kéo về đây. Một nhóm học sinh mặc đồng phục chỉnh tề tay cầm một tập sách nhỏ, đứng trước tượng đài tưởng niệm "Thiếu nhi tử nạn vì bom". Tôi khẽ nhìn vào tập sách dày trên dưới 20 trang, thì ra đó là tập lịch trình tham quan, bài ca, tư liệu học tập và bài tập được thầy cô chuẩn bị cho chuyến đi. Dưới sự hướng dẫn của thầy cô, các cháu cúi đầu mặc niệm, sau đó đồng ca một bài tưởng niệm và tung hô hòa bình thế giới với tiếng nhạc đệm phát ra từ một máy cassette gần đó. Một cháu đại diện nhóm bước ra nói cảm tưởng của mình, sau đó là bài diễn văn ngắn của thầy hướng dẫn nói về ý nghĩa của chuyến đi. Mọi người đều trầm ngâm, không một tiếng nói chuyện cười đùa. Cuối cùng, các cháu mang những con hạc giấy origami xếp sẵn biểu tượng cho hòa bình được kết lại nhiều chùm đặt dưới tượng đài. Một buổi lễ ngắn nhưng thật là cảm động, đầy ý nghĩa.

Trong Nhà Bảo tàng, hiện vật do hậu quả bom nguyên tử gây ra được trưng bày với lời giải thích tỉ mỉ và những hình ảnh kinh hoàng gây trên cơ thể con người khiến người xem không cầm được nước mắt hay phải nhắm mắt bỏ ra ngoài. Từ trung tâm bom nổ đến phạm vi bán kính 1 km, người ta chết tức khắc vì sức nóng. Nhiệt tỏa ra từ quả bom nóng đến độ làm mềm gốm sứ và tan chảy kim loại trong vòng bán kính 600 - 700 m. Ta có thể đoán sức nóng ít nhất phải trên 1000 °C. Toàn thể những tài liệu hướng dẫn, lời ghi chú, giải thích ở Nhà Bảo tàng, tôi không thấy xuất hiện những ngôn từ mang tính chất khiêu khích, hiếu chiến như "tội ác", "hận thù", "đế quốc" hay "xâm lược".

Tôi chú ý đến bức hình của Albert Einstein chụp chung với nhà vật lý người Mỹ gốc Hung gia lợi, Leo Szilard, trong thời gian khi hai người cùng thảo bức thư đề nghị tổng thống Roosevelt làm bom nguyên tử (năm 1939). Bản copy của bức thư định mệnh này mang địa chỉ nhà riêng và chữ ký của Einstein được trang trọng để trong lồng kính. Có một đoạn quan trọng của bức thư được tô đỏ và dịch ra tiếng Nhật. Trong đoạn này Einstein nói đến khả năng làm một loại bom cực kỳ mạnh với sức tàn phá vô song chưa từng thấy và khẩn thiết đề nghị tổng thống Mỹ lập ra một chương trình chế tạo loại bom này. Đọc xong bức thư, Roosevelt không chần chừ do dự và chương trình cực mật Manhattan ra đời.

Việc Einstein đề nghị làm bom nguyên tử là một thường thức lịch sử, nhưng khi đối mặt với bức thư định mệnh này, tôi sốc. Tôi lặng lẽ bước ra ngoài thầm nghĩ Einstein không những là một thiên tài khoa học mà cũng là một con người đạo đức đầy tính nhân bản, ông tranh đấu cho công bằng xã hội, dân chủ, sự thật, nhân quyền suốt cả đời người. Là một người làm khoa học và hiểu rõ sức mạnh của công thức E = mc2, phương trình cơ bản cho việc chế tạo bom nguyên tử, Einstein thừa hiểu đây là một loại vũ khí hủy diệt. Nhưng động cơ nào đưa đẩy ông vào cõi vô minh, khiến ông có thể viết một bức thư khuyến khích các chính trị gia lao đầu vào cuộc thí nghiệm trên cơ thể con người bằng phương pháp thảm sát tập thể đồng loại, tàn phá môi sinh, chưa nói đến những cuộc chạy đua vũ khí hạch nhân cho đến ngày hôm nay? Tôi thật sự hoang mang, không tìm ra câu trả lời.

Qua cửa sổ tầng hai của Nhà Bảo tàng, tôi nhìn thấy vòm tưởng niệm đá hoa cương và tòa nhà bị bom thấp thoáng đàng xa. Ánh sáng ban mai xuyên qua kẽ hở của những cụm mây dày mùa Thu làm rực sáng bãi cỏ xanh bên dưới; nổi bật lên những chiếc áo đồng phục màu vàng của đám trẻ con lớp mẫu giáo đang tung tăng theo cô giáo như đàn gà con theo mẹ. Tôi vừa xốn xang nhìn về một quá khứ kinh hoàng, vừa đăm chiêu chiêm ngưỡng một hiện tại an bình. Chưa bao giờ trong tôi lại nổi lên một tình cảm chán ghét chiến tranh đến thế...


Hiroshima: Miyajima

Hiroshima không phải chỉ có bom nguyên tử. Cách thành phố một giờ xe lửa và qua một con phà sẽ đưa ta đến đảo Miyajima. Đứng trên con phà, ta sẽ thấy cái cổng đền (tiếng Nhật gọi là torii) cao 15 m màu đỏ rực xuất hiện từ xa, đứng sừng sững như in trên nền màu xanh tươi của rừng núi phía sau. Đây là một kiến trúc đặc thù Nhật Bản và cũng là hình ảnh biểu tượng của đất nước Thái dương Thần nữ. Torii là cổng dựng trước những ngôi đền Thần đạo (Shinto). Kiến trúc những đền Thần đạo hay chùa Phật giáo mang một sắc thái đặc biệt Phù Tang. Với những nét chấm phá đơn giản, hình dạng và độ cong của mái ngói, chúng dễ dàng phân biệt được với những kiến trúc Trung Quốc (Hình 7, 8).


hinh-7

Hình 7: Cổng torii trong sương sớm (Di sản Thế giới).



hinh-8

Hình 8: Đền Thần đạo tại đảo Miyajima


Cổng torii và đền Thần đạo của đảo Miyajima nổi tiếng từ xưa vì nó được xây trên bãi biển vào năm 1168 và bây giờ là Di sản Thế giới. Một vị tướng quân cai trị vùng này thời đó có một ý tưởng là xây một ngôi đền "nổi". Bãi biển là một nơi lý tưởng để dựng đền vì mỗi lần thủy triều lên, chân đền ngập nước và cho một cảm giác "nổi" trên nước. Tôi đến nơi này vào một buổi sáng sớm khi thủy triều còn thấp. Nhiều phó nhòm chuyên nghiệp với dụng cụ nhiếp ảnh đắt tiền kiên nhẫn chờ đợi nước triều lên và hoàng hôn xuống để chụp được những bức ảnh nhiều màu sắc mang sự hài hòa giữa kiến trúc của con người, rừng núi và bầu trời của thiên nhiên.


Nagasaki: Thành phố lịch sử


Từ Hiroshima tôi tiếp tục cuộc hành trình đi về hướng Tây tiến về đảo Kyushu đến thành phố Nagasaki. Việc nối kết bốn hòn đảo chính bằng cầu hay đường hầm chạy dưới lòng biển là một kế hoạch manh nha từ thời Minh Trị Duy Tân. Đến ngày hôm nay, Nhật đã hoàn thành tất cả những kế hoạch này và đây là những công trình vĩ đại của lịch sử công nghệ xây dựng. Từ đảo Honshu qua đảo Kyushu một đường hầm dài gần 19 km xuyên qua lòng biển đã được thực hiện cho xe lửa siêu tốc Shinkansen có thể chạy đến 300 km/h.

Nagasaki (Hình 9) là một thành phố cảng ở phía Tây Bắc đảo Kyushu, nằm ở một vị trí chiến lược gần bán đảo Triều Tiên, đại lục Trung Quốc và Đài Loan. Nagasaki là cái nôi của nền khoa học kỹ thuật hiện đại Nhật Bản, mang một ý nghĩa lịch sử sâu sắc trong việc canh tân biến nước Nhật từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một cường quốc ngang hàng với phương Tây ở thế kỷ thứ 19. Nagasaki là thành phố thứ hai bị bom nguyên tử. Khi người Nhật chưa hết bàng hoàng vì quả bom Hiroshima, thì ba ngày sau Mỹ bỏ quả bom thứ hai trên thành phố này.


hinh-9

Hình 9: Con suối nhỏ chảy ngang thành phố.


Cũng như Hiroshima, Nagasaki đã hoàn toàn khắc phục hậu quả của vết thương nguyên tử và trở thành một thành phố hiện đại. Hiện nay, toàn tỉnh đang tham gia phong trào vận động chính phủ kéo tuyến đường xe lửa siêu tốc Shinkansen đến Nagasaki để tăng tốc nhịp độ kinh tế địa phương. Dù là một tỉnh ở cực Nam nước Nhật (có thể so sánh như Kiên Giang hay Cà Mau của ta), các cô gái Nagasaki cũng thời thượng không kém dân Tokyo. Một người bạn viết email hỏi tôi "Con gái Nagasaki có đẹp không?", không một chút do dự tôi trả lời rằng "Đẹp một cách thần thoại". Các cô gái trang điểm rất nhẹ, không nặng nề loè loẹt. Nhật Bản là nước có nhiều trung tâm giải phẫu thẩm mỹ cao cấp, nhưng phụ nữ Nhật dường như không thích chỉnh sửa bằng dao kéo. Ngược lại quí bà quí cô sẵn sàng trút tiền mua các loại mỹ phẩm Shiseido đắt giá để tạo cho những đôi mắt một mí Nhật Bản có một vẻ đẹp đặc thù, hay để làm nổi bật cái sóng mũi dọc dừa, cái cằm trái soan, bằng sự điều hòa giữa các gam màu mỹ phẩm. Thời trang của các cô cho mùa Thu năm nay là đôi giày ống da cao đến gối, bó lấy đôi chân thon dài nhún nhảy, đi với cái short skirt trêu ngươi hay là cái quần short ngắn thật sát để lộ một phần đùi dài ít nhất 20 cm. Mỗi người mỗi kiểu. Các nhà thiết kế thời trang và công ty mỹ phẩm Shiseido quả là có nhiều sáng kiến moi tiền và phụ nữ Nhật cũng đáp ứng nhiệt tình, tiêu xài rộng rãi, đóng góp không ít vào nền kinh tế Nhật qua cái khoản chi tiêu làm đẹp.

hinh-10

Hình 10: Một giáo đường tại Nagasaki.

Ngược dòng lịch sử, trở về quá khứ. Từ thế kỷ thứ 16, Nagasaki trở thành một cảng quốc tế giao thương với người Trung Quốc và các thế lực Âu Tây đương thời như Bồ Đào Nha và Hà Lan. Cũng từ Nagasaki, các đội thương thuyền Nhật Bản vượt trùng dương buôn bán với Trung Quốc, Việt Nam (Phố Hiến, Hội An), Campuchia, Phillipine, Thái Lan và đến tận Indonesia và Mã Lai. Các giáo sĩ Bồ Đào Nha sớm mang Ky-tô giáo đến truyền bá trên đất nước Thái dương Thần nữ và xây nhiều giáo đường trước khi chính quyền Mạc Phủ ra lệnh "tỏa quốc" (sakoku, tức là bế quan tỏa cảng), cấm đạo, trục xuất người Bồ Đào Nha và giết giáo sĩ [2]. Số người Nhật theo Ky-tô giáo rất ít, nhưng không ở đâu trên nước Nhật dấu ấn của Ky-tô giáo đậm đà và sâu sắc như tại Nagasaki. Hàng chục giáo đường lớn nhỏ tại Nagasaki và những vùng lân cận vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Các vị nữ tu thường đi lại trên đường phố hay trên các phương tiện giao thông công cộng; một cảnh tượng hiếm thấy trong các thành phố Nhật Bản. Nhiều giáo đường trở thành Quốc Bảo (di sản quốc gia) được chính phủ hay các hội đoàn địa phương trùng tu liên tục (Hình 10). Người Trung Quốc cũng di dân đến Nagasaki từ thời mạt Minh và đến khi nhà Thanh thành lập số người Hoa gia tăng, mang theo tinh thần "phản Thanh phục Minh" chờ dịp lật đổ triều đình Mãn Thanh. Sự ngẫu nhiên lịch sử đã đưa đẩy Nagasaki trở thành giao điểm của hai nền văn hóa Đông và Tây, đi song song và bổ sung nhau, tạo thành một nét đặc thù văn hóa không tìm thấy ở các thành phố khác của Nhật.

hinh-11

Hình 11: Chùa cổ Trung Quốc,
Hưng Phước Tự.

Trong buổi sáng đầu tiên lành lạnh của thành phố cảng này, tôi đi xe điện (tram, streetcar) tìm đến con đường lịch sử, Teramachi-dori (đường xóm Chùa). Gần 10 ngôi chùa cổ với số tuổi 300 - 400 năm được mang danh hiệu Quốc Bảo (di sản quốc gia), tọa lạc trên con đường hẹp và dài 2 km này. Chính quyền Mạc Phủ đương thời cho phép mỗi tông phái Phật giáo xây một ngôi chùa dọc theo con đường tiếp giáp với chân núi Kazarashira. Hai ngôi chùa Trung Quốc, Hưng Phước Tự (Kofukuji) và Sùng Phước Tự (Sofukuji) (Hình 11), ở đầu và cuối con đường có lẽ là hai ngôi chùa cổ nhất của Teramachi. Chùa được di dân người Hoa ở tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc) trong thời gian đầu lập nghiệp xây dựng với vật liệu mang từ Trung Quốc. Hòa thượng Ẩn Nguyên (Ingen) từ Phước Kiến đến đây truyền bá Thiền Tông (1654), lập ra trường phái thiền Hoàng Bá và trở thành một vị Đại Sư được tôn kính rất mực của Phật giáo Nhật Bản.


Nagasaki: Nàng công nương họ Nguyễn

Ở giữa con đường xóm Chùa là Đại Âm Tự (Daionji). Ngôi chùa này có ít nhiều liên hệ đến Việt Nam. Phía sau ngôi chùa là một nghĩa trang lâu đời dọc theo triền núi, có hàng ngàn, chục ngàn ngôi mộ chôn hài cốt của giai cấp quí tộc và giai cấp võ sĩ "samurai" vài trăm năm trước [3]. Dựa theo thông tin của một ông bạn tại Nagoya, tôi đến thăm chùa với mục đích tìm ngôi mộ của một vị công nương Việt Nam, con của chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên được gả về Nagasaki năm 1619, kết hôn với Araki Sotaro (Hoang Mộc Tông Thái Lang), một thương nhân nổi tiếng đương thời và cũng là nhà hàng hải kiệt xuất thuộc dòng dõi samurai. Đại Âm Tự là một trong những ngôi chùa lớn tại Nagasaki. Tiếc rằng, trận hỏa hoạn năm 1959 đã thiêu hủy toàn thể ngôi chùa. Chùa được xây cất lại nhưng vẻ cổ kính không còn như xưa.

Tôi đi đến văn phòng chùa hỏi thăm địa điểm ngôi mộ cổ. Bà quản lý tử tế chỉ dẫn và nhanh nhẹn lướt qua một số tài liệu, in ra cho tôi một trang nói về phần mộ của dòng họ Araki. Thì ra, ngôi mộ được chỉ định là "Sử tích của thành phố Nagasaki". Tôi thầm phục cách lưu trữ tài liệu, phân loại và xử lý văn bản lịch sử của người Nhật. Chỉ trong vòng vài phút, một người quản lý bình thường của một ngôi chùa có thể tìm ra tên tuổi người quá cố qua đời vài trăm năm trước giữa hàng chục ngàn cái tên khác.

hinh-12

Hình 12: Mộ phần dòng họ Araki.

Theo lời chỉ dẫn, tôi leo lên hơn 200 bực đá dọc theo triền núi, quẹo trái quẹo phải, đi qua hàng trăm ngôi mộ cổ được sắp xếp thứ tự theo từng gia tộc, phần lớn đã rêu phong, những chữ khắc vào đá cũng đã phai mờ. Ở mỗi phần mộ tôi nhận thấy có bia đá nhỏ khắc chữ "Thổ thần" giữ mộ. Một tập tục Trung Quốc ảnh hưởng đến phong tục của người Nagasaki. Tôi không thấy những bó hoa tươi, dấu vết hương khói hay sự lui tới thường xuyên của con người, chỉ có những làn gió vi vu thổi qua ngọn đồi làm không gian vốn đã u tịch lại càng đượm thêm một màu thê lương. Có lẽ, vì là mộ cổ con cháu của người quá cố đã ly tán khắp nơi, không còn ai còn nhớ đến quá khứ và trở lại chăm sóc mộ phần. Mộ phần nhà Araki cũng dễ tìm, trước cổng mộ thành phố Nagasaki có dựng một bảng tóm tắt tiểu sử của ông Araki Sotaro và người vợ, một công nương Việt Nam với cái tên Nhật (?) Wakaku (từ Hán Việt: Vương Gia Cữu) (Hình 12, 13). Đứng trước ngôi mộ tôi chấp tay cúi đầu, hy vọng rằng sẽ có hài cốt của một công nương quyền quí nằm trong lòng đất này.


hinh-13

Hình 13: Bảng tiểu sử ông Araki Sotaro và vị công nương Việt Nam do thành phố Nagasaki dựng lên.


Tôi tìm hiểu thêm về mộ phần của Araki Sotaro qua thông tin trên trang copy từ sách tài liệu của nhà chùa. Được biết, Araki Sotaro sau khi thành hôn với công nương Wakaku ông tự đặt thêm một tên Việt Nam là Nguyễn Thái Lang. Công nương Wakaku nổi tiếng và được người dân Nagasaki gọi bằng cái tên thân mật là Anio-san (anio = A Nương theo từ Hán Việt, có thể dịch là "cô nương"). Công nương mất năm 1645, như vậy bà sống ở Nhật 26 năm, được ban pháp danh là Diệu Tâm. Một pháp danh rất là Việt Nam. Cũng theo trang thông tin này, hơn hai trăm năm sau vào thời Minh Trị mộ phần của Akira Sotaro và Anio-san được con cháu đời thứ 13 cải táng và mộ phần hiện tại chỉ có đời thứ 3, thứ 12, 13 và 14 (Araki Sotaro là đời thứ 1).

Cuộc đời của Araki Sotaro và công nương Việt Nam Wakaku sẽ có rất ít người biết nếu chỉ dựa vào bảng tiểu sử ở một nghĩa trang heo hút và tài liệu "đóng bụi" của Đại Âm Tự. Nhưng câu chuyện tình Nhật Việt này đã được mang ra trình bày và giải thích bằng hai thứ tiếng Nhật và Anh cùng với những mẩu chuyện khác về Nagasaki ở thế kỷ 17, 18 tại địa điểm tham quan lịch sử Dejima (đề cập ở phần sau). Tài liệu Nhật còn cho biết khi nàng Wakaku cập bến Nagasaki, một cuộc đón tiếp long trọng được tổ chức để đón cô dâu quí tộc đến từ Nam quốc xa xôi. Trang phục của cô dâu đã gây một ấn tượng đặc biệt cho người dân Nagasaki và từ đó về sau nó trở thành một tiết mục thời trang cho lễ hội (matsuri) hàng năm của thành phố đến tận ngày hôm nay. Trong khi đó, lịch sử Việt Nam không có một giòng chữ nào đề cập đến số phận của nàng công nương xa xứ họ Nguyễn.

Phải công nhận rằng người Nhật có cách quảng bá lịch sử rất sáng tạo và khoa học. Ở những địa điểm du lịch, họ dựng bảng giải thích các di tích với hình ảnh, bản đồ, niên biểu, và lời dịch tiếng Anh rất chính xác, gần đây thêm tiếng Hoa và tiếng Hàn. Đối với những sự kiện lịch sử lớn lao đặc biệt là vào thời Mạc Phủ và Minh Trị Duy Tân, họ nghiên cứu, sưu tập tư liệu làm những bộ phim tập trường thiên chiếu trên kênh truyền hình quốc gia NHK để tôn vinh một thời đại, một vương phi hay một nhân vật samurai anh hùng. Vì tính chất hấp dẫn của những bộ phim samurai lịch sử này, phim chưởng Hong Kong hay Trung Quốc với những màn đánh nhau loạn xị, vô cảm nằm ngoài thị hiếu của khán giả và không bao giờ xâm nhập được vào thị trường tivi và điện ảnh Nhật Bản. Ngoài ra, kênh truyền hình giáo dục NHK [4] có những giờ lịch sử được trình bày sống động theo lối "kể chuyện cổ tích" xen vào những khúc phim miêu tả (re-enactment) hay phim tài liệu ngắn rất cuốn hút người xem.


Nagasaki: Dejima

Dejima là một địa danh lịch sử của Nagasaki và của Nhật Bản. Nói đến lịch sử cận đại Nhật Bản thì phải đề cập đến Dejima. Cũng không phải quá lời khi gọi Dejima là cái nôi của khoa học kỹ thuật cận đại Nhật Bản. Trong suốt thời kỳ "tỏa quốc" (bế quan tỏa cảng) của chính quyền Mạc Phủ, nước Nhật tự cấm vận chính mình không giao thương với bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Tuy nhiên, chính quyền Mạc Phủ khôn ngoan mở ra một "cửa sổ" nhỏ để nhìn thế giới. Đó là Dejima (Hình 14).


hinh-14

Hình 14: Mô hình toàn cảnh Dejima


Dejima là một hòn đảo nhân tạo rộng 15.000 m2 được chính quyền Mạc Phủ xây cất để cho người Hà Lan mướn và lập văn phòng của các công ty thương thuyền, nhà ở cho nhân viên. Người Hà Lan được phép đi lại vì họ chỉ buôn bán và không liên hệ đến các hoạt động truyền giáo. Trong những đoàn thương nhân này, có những vị bác sĩ đến đây để chăm sóc sức khoẻ của nhân viên và thủy thủ. Những sĩ phu yêu nước không phân biệt giai cấp từ Edo (Tokyo), Kyoto, Osaka, đã lũ lượt kéo về Nagasaki đến Dejima tìm gặp các vị bác sĩ này để "tầm sư học đạo". "Đạo" ở đây là Lan học (cái học của Hà Lan), có nghĩa là cái học của khoa học kỹ thuật Tây phương. Năm 1774 bộ sách y khoa về giải phẫu học tiếng Nhật đầu tiên và cũng là quyển sách khoa học đầu tiên, "Giải thể tân thư", ra đời dựa trên theo nguyên bản tiếng Hà Lan. Những môn học khác như thực vật học, dược học, nông học, vật lý, hóa học, toán học lần lượt được phổ biến. Từ đó Lan học và phong trào dịch thuật lan rộng cả nước nhanh chóng như lửa rừng, đồng thời đẩy lùi cái học "ngũ thư, tứ kinh" vào bóng tối. Thời thế tạo anh hùng. Vào đầu thế kỷ 19, những nhà Lan học lỗi lạc xuất hiện, lập trường học đào tạo nhân tài, đặt một nền tảng khoa học kỹ thuật cho cuộc vận động Minh Trị Duy Tân sau này.

Ngày nay Dejima không phải là hòn đảo nữa vì xung quanh người ta đã lấp đất lấn ra biển. Trên địa điểm cũ những ngôi nhà xưa được phục nguyên và sinh hoạt của người Hà Lan được tái hiện theo tài liệu lịch sử. Bộ sách "Giải thể tân thư" và bộ tự điển đầu tiên Nhật - Hán - Anh - Hà Lan viết bằng tay được trưng bày tại đây cho thấy sự cầu tiến và kiên nhẫn của các nhà Lan học. Trong phòng triển lãm, tôi chú ý đến cái đồng hồ quả lắc, ống nhòm thiên văn, cây súng trường, khẩu súng lục chế tạo vài trăm năm trước mô phỏng theo Hà Lan, Bồ Đào Nha, được cải thiện cho thích hợp với người Nhật Bản.

Tinh thần phân tích, suy diễn, cải thiện và khiêm tốn học hỏi thấm sâu trong tư duy người Nhật đã giúp họ phát triển mọi mặt. Vào thế kỷ thứ 8, người Nhật Bản sang nhà Đường (Trung Quốc) du học, vay mượn Hán tự làm văn tự của mình và cách tổ chức hành chánh của triều đình nhà Đường để an bang trị quốc. Họ cải thiện Hán tự và dùng cho đến ngày hôm nay mà không mang một chút mặc cảm vay mượn. Trái lại, họ đã đóng góp rất nhiều vào việc phong phú hóa Hán tự và hội nhập văn tự này vào ngôn ngữ khoa học thế giới. Kể từ khi Lan học xuất hiện, người Nhật đã dùng tiếng Hán để dịch những từ ngữ y học, khoa học tự nhiên và nhân văn. Những thuật ngữ như: vật lý, hóa học, số học, vi phân, tích phân, phương trình, quĩ đạo, lượng tử v.v…, hay trong khoa học nhân văn: kinh tế, chính trị, dân chủ, xã hội, chủ nghĩa, cộng sản, là những từ Hán Nhật mà sau này ông thầy Trung Quốc phải vay mượn lại "học trò" Nhật để bắt kịp thế giới.

Đến tham quan Dejima, tôi thấy thêm một lần nữa tinh thần phân tích, suy diễn, cải thiện và khiêm tốn học hỏi của người Nhật đã đưa đất nước này từ một nước nông nghiệp lạc hậu, thiếu thốn tài nguyên đến địa vị một đế quốc quân sự và sau này một cường quốc kinh tế và khoa học kỹ thuật.

Hai ngày tại Nagasaki vẫn chưa đủ, nhưng đã đến lúc phải chia tay. Trước khi từ giã thành phố cảng lãng mạn này, tôi lững thững ra ngoài bến cảng nhìn Nagasaki lần cuối. Mây vẫn lướt thướt bay, sóng vẫn vỗ rì rào và núi vẫn sừng sững vươn lên. Một dãy sơn hà đã chứng kiến biết bao cảnh thăng trầm, biết bao tao nhân mặc khách, anh hùng hào kiệt đến đến đi đi. Ánh sáng bình minh của khoa học đã chiếu trên mảnh đất địa linh nhân kiệt này và những con người Nhật Bản cầu tiến đã sớm thức tỉnh nắm bắt lấy cơ hội làm ra những trang sử oai hùng cho đất nước.

Buổi chiều hôm đó lành lạnh, có nhiều mây mù và trời lất phất mưa. Tôi bỗng chợt bâng khuâng muốn đứng giữa bến cảng êm đềm hát to bài tình ca của một thời du học, "Nagasaki wa kyo mo ame datta" (Nagasaki trời hôm nay mưa cũng đã rơi)…


Mùa Giáng Sinh 2008

Trương Văn Tân



Phụ chú


1. Thơ Nguyễn Công Trứ.

2. Có một sự trùng hợp lịch sử thú vị giữa Việt Nam và Nhật Bản trong cùng một thời kỳ. Ở giai đoạn Trịnh Nguyễn phân tranh tại Việt Nam và chúa Trịnh nắm hết quyền bính ở Đàng Ngoài biến vua Lê thành nhân vật biểu tượng, thì tại Nhật Bản chính quyền Mạc Phủ (tên chỉ một thời đại) do một Tướng quân (Shogun) cầm đầu cai trị cả nước Nhật cũng biến Thiên Hoàng Nhật thành bù nhìn. Chính quyền Mạc Phủ đi qua nhiều thời đại được truyền tay qua những Tướng quân lỗi lạc, kéo dài gần 300 năm từ hậu bán thế kỷ 16 đến Minh Trị Duy Tân năm 1867. Đây là thời kỳ hòa bình lâu dài nhất trong lịch sử Nhật Bản. Nhận thấy chính quyền Mạc Phủ không còn thích hợp với thời đại, phe bảo hoàng của các thế lực quân sự tại Satsuma-han (han: phiên, tương đương tỉnh, bây giờ là tỉnh Kagoshima, nam Kyushu), Choshu-han (tỉnh Yamaguchi, tây Honshu) và Tosa-han (tỉnh Kochi, Shikoku) liên minh làm cách mạng lật đổ chính quyền Mạc Phủ tại Edo (Tokyo), trao trả quyền lực lại cho Thiên Hoàng và mở đầu thời đại Minh Trị Duy Tân (1867). Tiếc rằng, Việt Nam không có một sự kiện tương tự.

3. Vào thời phong kiến, người Nhật cũng theo truyền thống "sĩ, nông, công, thương", nhưng "sĩ" của Nhật là giai cấp "võ sĩ" (samurai).

4. Có lẽ Nhật Bản là nước duy nhất trên thế giới có kênh truyền hình giáo dục hoạt động song song với kênh tổng hợp. Ngoài những tiết mục dạy bổ túc cho học sinh trung học, kênh giáo dục còn có những tiết mục nhân văn, xã hội, nghệ thuật, ngoại ngữ đàm thoại cho đại chúng. Hàng tháng NHK xuất bản những tập sách nhỏ giá rẻ để học viên có thể theo dõi chương trình học một cách hiệu quả.

http://www.diendan.org/sang-tac/mot-thoang-phu-tang/

Mời nghe "Nagasaki wa kyo mo ame datta" (Nagasaki trời hôm nay mưa cũng đã rơi)…

Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2008

Nghệ sỹ Nhật Bản Oguri Kumiko: “Cây đàn t’rưng đã hút hồn tôi”

Cây đàn - với hình dáng lạ lùng được đặt chính giữa sân khấu Phòng hòa nhạc thành phố Yokohama - đã thu hút sự tò mò của khán giá xứ Phù Tang ken chật dưới khán phòng. Một cô gái Nhật trong tà áo dài Việt Nam truyền thống bước ra, đôi bàn tay mảnh mai cầm hai chiếc dùi lướt nhẹ trên dãy ống tre nứa. Thanh âm quyến rũ của Trở về Tây Nguyên, của Suối đàn t'rưng réo rắt vang lên. Oguri Kumiko đấy!

Âm sắc của cây đàn t'rưng hơi đục, tiếng không vang to, vang xa nhưng rất đặc biệt. Thưởng thức tiếng đàn, người ta có cảm giác như tiếng suối róc rách, tiếng thác đổ, tiếng xào xạc của rừng tre nứa khi cơn gió thổi qua. Những ánh đèn flash liên tục lóe lên. Những khán giả hiếu kỳ vây quanh, thận trọng sờ vào từng chiếc ống tre. - "Đàn gì mà kỳ lạ vậy?". - "Cây đàn t'rưng của Việt Nam". Những tràng pháo tay không dứt, những bó hoa nồng nhiệt chúc mừng. Gương mặt cô gái xinh đẹp sáng bừng trong niềm hạnh phúc tột cùng. Bằng buổi biểu diễn duy nhất do chính cô đầu tư kinh phí, Oguri Kumiko đã thoả ước nguyện, đem cây đàn đã từng hút hồn cô vượt biên giới đến với xứ sở hoa anh đào.

Tình yêu đất Việt dẫn tới niềm say mê đàn Việt:

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về âm nhạc (mẹ từng là ca sĩ, giảng viên thanh nhạc tại đại học âm nhạc Kunitachi), Oguri Kumiko được sống trong không khí đàn ca từ bé. Ba tuổi, Kumiko đã bắt đầu học đàn piano với mẹ. Năng khiếu âm nhạc và đam mê các loại nhạc cụ khiến cô bé ngày càng tò mò muốn khám phá cả một thế giới âm nhạc rộng lớn xung quanh. Chơi kèn trombone và trở thành thành viên của câu lạc bộ âm nhạc tại trường cấp ba, vài năm sau, cô lại chuyển niềm say mê sang cây đàn marimba và hiện vẫn đang là thành viên Hiệp hội marimba "Những ngôi sao phương Bắc" của Nhật Bản.

Với vốn tiếng Việt đã rơi rụng phần nào vì "mấy năm gần đây, tôi không có điều kiện sử dụng ngoại ngữ này nên quên rất nhiều", Oguri Kumiko khá chật vật khi tâm sự với tôi về chặng đường dài đến với cây đàn thuần Việt của mình.

 Nghệ sĩ Nhật Bản Oguri Kumiko say mê với cây đàn t’rưng của Việt Nam.
"Đến năm 17 tuổi, tôi vẫn chưa có chút khái niệm gì về đất nước các bạn. Vốn yêu thích ngoại ngữ, yêu thích người châu Á nên tôi cố tìm hiểu đời sống, nền văn hóa của các nước xung quanh, nhất là các nước Đông Nam Á. Các bạn trẻ Nhật Bản thường chọn theo học tiếng Trung, tiếng Hàn..., nhưng tôi thì không. Rồi hàng ngày, tivi và báo chí ở Nhật đưa tin rất nhiều về đất nước Việt Nam, với tốc độ tăng trưởng nhanh và đang trong quá trình hội nhập. Vì vậy, tôi chọn theo học tiếng Việt, tại trường đại học Ngoại ngữ Tokyo".

"Năm thứ nhất đại học, vào phòng nghiên cứu của thầy Imai - chuyên gia về lịch sử tư tưởng Việt Nam, tôi thấy một cây đàn xinh xắn, bé tí đặt trên bàn. Thấy tôi tò mò ngắm nghía mãi, thầy giải thích, đó là đàn của một vài dân tộc thiểu số Việt Nam. Tên đàn là gì thì thầy cũng... chịu. Hình dáng ấn tuợng của loại nhạc cụ này ngay lập tức đã quyến rũ tôi, như một mối duyên tiền định vậy. Bụng bảo dạ, nếu có dịp được đặt chân tới mảnh đất Việt, tôi nhất định sẽ tìm kiếm nó cho bằng được".

"Rồi kỳ nghỉ năm thứ nhất, tôi cùng 9 người bạn rủ nhau làm một tour du lịch xuyên Việt, từ Hà Nội tới Huế, đi Đà Nẵng rồi tới TP. Hồ Chí Minh. Ở điểm dừng chân cuối cùng, tôi đã được nhìn tận mắt cây đàn t'rưng (quả thật cái tên đó khá khó đọc, với một người nước ngoài) và xin người chủ cửa hàng cho đánh thử. Âm thanh vang lên từ những ống tre đơn sơ thật đẹp. Niềm ao ước tập chơi đàn, được sở hữu một chiếc t'rưng đã theo tôi suốt cả chặng đường dài về nước".

"Cuối năm học thứ hai, tôi lại có ba tuần quý giá ở Hà Nội, được học đàn t'rưng với một giảng viên của Nhạc viện. Mỗi tuần năm buổi, mỗi buổi hai tiếng. Ba mươi giờ đồng hồ ngắn ngủi, tôi đã có thể chơi được dăm tác phẩm mang đậm âm hưởng núi rừng Tây Nguyên như Anh hùng Núp, Đi săn, Múa nón, Cô gái vót chông... Trở về quê hương, tôi kiên nhẫn tập luyện liên tục, tự tìm tòi tài liệu học hỏi thêm để dùng cây đàn Việt chuyển tải được cả một số tác phẩm mang âm hưởng dân ca Nhật Bản kiểu như Akatonbo (Con chuồn chuồn đỏ) nữa"

Hành trình tìm về cội nguồn T'rưng

Tốt nghiệp đại học, Kumiko tiếp tục nghiên cứu và bảo vệ thành công luận án thạc sĩ với đề tài: "Tìm hiểu văn hóa Việt Nam qua nhạc cụ dân tộc cổ truyền". Bởi theo cô gái Nhật Bản xinh đẹp và rất dịu dàng này, "tôi muốn vừa nghiên cứu vừa biểu diễn âm nhạc Việt, bằng một loại nhạc cụ Việt". Đã năm lần trở lại mảnh đất mà cô tự nhận là quê hương thứ hai này, Kumiko có nhiều trải nghiệm rất thú vị. "Món ăn của các bạn rất tuyệt vời. Khi mới đến đây, tôi đã cảm thấy hòa đồng ngay vì nền văn hóa hai nước có nhiều điểm tương đồng, gần gũi. Tiếng Việt và tiếng Nhật có nhiều từ phát âm cũng na ná giống nhau. Và người Việt luôn tạo cho tôi cảm giác dễ chịu, thân thiện".

Cùng với cô bạn gái người Việt, Kumiko đã đặt chân tới nhiều buôn làng Tây Nguyên. Trên những nẻo đường cao nguyên, cô đã kịp trang bị cho mình vốn kiến thức khá sâu về lịch sử hình thành, về nét đặc trưng mang đậm bản sắc văn hóa cũng như tín ngưỡng của vùng đất đậm màu sử thi huyền thoại này. Kumiko đã được chiêm ngưỡng cả cây đàn nguyên sơ lẫn chiếc t'rưng đã được cải tiến rất nhiều. Cô cũng đã kỳ công lắng nghe và cố gắng phân biệt được sự khác nhau trong âm giai của từng bản nhạc, khi được nghe người địa phương biểu diễn giữa rừng già đại ngàn và lúc do các nghệ sĩ thể hiện trên sân khấu Hà Nội - TP. HCM.

T'rưng là loại nhạc cụ gõ phổ biến ở Tây Nguyên, đặc biệt quen thuộc với dân tộc Gia Rai và Ba Na. Đàn làm bằng một số ống tre lồ ô hay nứa có kích cỡ khác nhau. Đàn chuyên nghiệp có khoảng 12 đến 16 ống xếp thành hàng trên giá đàn, theo thứ tự đi dần lên từ ống lớn đến ống nhỏ, từ ống dài đến ống ngắn (loại đàn t'rưng dân gian chỉ có 5 ống với cách xếp ngược lại, ống trên cao lớn rồi đi dần xuống là những ống nhỏ hơn). Mỗi đầu ống đều bịt kín do còn nguyên các đầu mấu, đầu kia đuợc gọt vát một phần ống để tạo âm. Khi dùng dùi gõ vào các ống sẽ tạo thành âm thanh cao thấp khác nhau tùy độ to, nhỏ, dài, ngắn của ống. Ống to và dài phát ra âm trầm, còn những ống nhỏ và ngắn có âm cao.

Theo truyền thống, t'rưng là nhạc cụ do nam giới sử dụng, chỉ được chơi trên nương rẫy, kiêng cữ đánh trong nhà và trong làng. Vì người dân tộc tin rằng trong mỗi ống đàn có một vị thần cư trú, giúp con người bảo vệ cây trồng trên rẫy. Nhưng theo nhận xét rất vui của Kumiko, hiện trên các sân khấu chuyên nghiệp, người chơi đàn t'rưng lại thường là... nữ giới.

Cũng theo cô gái trẻ, "t'rưng là một loại nhạc cụ đặc sắc trong kho tàng nhạc khí Tây Nguyên. Càng thêm hiểu biết, tôi càng bị tiếng đàn t'rưng hút hết cả hồn vía. Tôi nghĩ mọi người có thể hiểu nhau qua âm nhạc. Cũng như nền văn hóa các nước có thể hội nhập thông qua cây cầu nối hiệu quả này. Vì thế, tôi đã nảy ra ý định khi về Nhật sẽ giới thiệu thật kỹ những gì mình biết về cây đàn t'rưng. Tôi tin là đồng bào mình sẽ đón nhận nó như một món ăn tinh thần lạ lẫm nhưng cũng thật thú vị".

Và chặng đường đưa t'rưng đến với Nhật Bản

Cây đàn đầu tiên mà Kumiko được sở hữu do chính tay cô giáo dạy nhạc lựa tre, đặt thợ thực hiện. Giá trị vật chất của nó không nhiều, nhưng để mang về tới nơi thì cũng đúng là "của một đồng, công một nén". Kumiko cười hóm hỉnh, khi nhớ lại những rắc rối nho nhỏ tại sân bay Nội Bài. Nhân viên hàng không yêu cầu cô phải gửi chiếc đàn theo dạng hành lý chứ không được mang theo người vì kích thước quá cồng kềnh. Cô nằn nì, "nếu gửi thì em sợ bị vỡ. Và nếu nó không còn nguyên vẹn thì văn hoá Việt Nam bị vỡ mất". Anh nhân viên phì cười và đồng ý. Khi chuyển máy bay ở sân bay Hồng Kông, lại lực lượng an ninh sân bay tỏ ra rất ngạc nhiên, có người còn ngửi thử một số ống tre. Khi nghe Kumiko giải thích, rằng đây là nhạc cụ dân tộc của Việt Nam, họ cũng cho đi, tuy vẫn nhìn cô với ánh mắt rất tò mò.

Ngoài biểu diễn các nhạc cụ, công việc chính của Kumiko hiện nay là cô giáo dạy đàn marimba. Đã có rất nhiều học trò, sau khi nghe cô độc tấu t'rưng đã năm nỉ xin theo học. Khổ một nỗi là đàn chỉ có một chiếc, lại rất dễ hỏng, nên cô đành phải từ chối. Gặp tôi cách đây vài hôm, cô than thở, lại phải sang Việt Nam, tìm mua chiếc t'rưng mới để "khuân" về Nhật. "Có cách nào đỡ tốn công, tốn của hơn không?". "Chịu thôi, trót yêu cây đàn thì phải chịu" - Kumiko cười.

Thỉnh thoảng, Oguri vẫn mang cây đàn t'rưng, yểu điệu trong trang phục áo dài đi biểu diễn tại các buổi liên hoan giao lưu văn hoá Nhật - Việt ở Tokyo. Hai cây dùi lướt trên dãy ống tre tạo nên những thanh âm đẹp mê hồn, cô có biết mình đã trở thành một nhịp cầu sống động, giúp mang văn hóa Việt đến với bạn bè quốc tế?

Đàm Ngọc Bảo (Sức khỏe & đời sống)

Thứ năm, 30/10/2008

http://www.suckhoedoisong.vn/20081030162627453p0c15/nghe-sy-nhat-ban-oguri-kumiko-cay-dan-t%E2%80%99rung-da-hut-hon-toi.htm

Thứ Sáu, 17 tháng 10, 2008

Trung Quốc, Nhật Bản – hai thái độ với giải Nobel (nghĩ về Việt Nam)


Giải Nobel Hóa học 2008 được trao cho phát minh ra chất protein huỳnh quang màu xanh, vốn đã trở thành một công cụ quan trọng trong sinh học. 3 nhà khoa học đoạt giải, từ trái qua phải: Osamu Shimomura, Martin Chalfie và Roger Y. Tsien (Tiền Vĩnh Kiện). (Ảnh: Science Centric)

Tân Kinh Báo (xuất bản tại Bắc Kinh) ngày 9/10 đưa tin: Viện Khoa học Hoàng gia Thụy Điển công bố giải Nobel Hóa học 2008 được trao cho nhà khoa học Mỹ Marin Chalfie, nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Tiền Vĩnh Kiện (tên Mỹ là Roger Tsien) và nhà khoa học Nhật Osamu Shimomura.

Trước đó các cơ quan truyền thông Trung Quốc đã tỏ ra phấn khởi một cách ngạc nhiên về thông tin dự kiến Tiền Vĩnh Kiện – cháu họ của Tiền Học Sâm (*) – có hy vọng đoạt giải này.

Ngược lại, nước Nhật từ hôm bắt đầu công bố giải Nobel năm nay đến giờ đã có 3 nhà khoa học được tặng vinh dự ấy thì lại tỏ ra tự kiềm chế.

Trung Quốc phấn khởi

Bình luận về thông tin về giải Nobel Hóa học, báo “Thanh niên Trung Quốc” ngày 10/10 viết: Khoa học không có biên giới quốc gia nhưng nhà khoa học thì có quốc tịch. Vì năm nào cũng có trao giải Nobel mà năm nào giải này cũng không “bén duyên” với người Trung Quốc (Trung Quốc), khiến cho công chúng và giới truyền thông Trung Quốc cảm thấy một nỗi đau buồn khó hiểu.

Khi người Trung Quốc bỏ cặp kính râm xuống, rốt cuộc họ phát hiện: suy cho đến cùng giải Nobel vẫn là giải lớn cấp bậc cao nhất thế giới, đại diện cho trình độ mũi nhọn của khoa học thế giới. Bởi vậy khi người các nước láng giềng như Nhật Bản, Ấn Độ được trao giải Nobel, riêng Trung Quốc thì... vô duyên, điều ấy thể nào cũng khiến chúng ta cảm thấy có một nỗi bất bình gì đó.

Lần này thì tốt rồi, cháu họ của Tiền Học Sâm là Tiền Vĩnh Kiện (Roger Y. Tsien) được tặng giải Nobel!

Chưa nói chuyện báo đài Trung Quốc trước đó đã đưa nhiều tin về việc Tiền Vĩnh Kiện có thể đoạt giải ấy, mà nhiều báo Trung Quốc hôm 9/10 vừa rồi đều đăng tải tin giật tít: “Cháu họ của Tiền Học Sâm gặt hái giải Nobel Hóa học” và đăng ảnh Tiền Vĩnh Kiện lên vị trí hàng đầu.

Người ta quên mất cái tên Tiền Vĩnh Kiện, lại càng chẳng nói tới quốc tịch của ông ấy. Cái tạt vào mặt người đọc là một kiểu ám thị mạnh mẽ: đây là niềm kiêu hãnh của họ Tiền, niềm kiêu hãnh của Trung Quốc.

Thật ra, nhiều năm trước đây các nhà khoa học gốc Hoa quốc tịch Mỹ như Dương Chấn Ninh, Lý Chính Đạo v.v... đã mang lại vinh quang cho người Trung Quốc rồi, lần này rốt cuộc lại có người kế tục, sao không phấn khởi chúc mừng nhỉ?

Nhật Bản kiềm chế

Ngược lại, người Nhật tỏ ra tự kiềm chế. Người Nhật tự nhắc nhở mình là nền giáo dục nước họ hãy còn khiếm khuyết và mong rằng nhân dịp này nên uốn nắn thái độ “kính nhi viễn chi” của giới trẻ Nhật đối với các môn khoa học tự nhiên, nhằm tăng cường sức sống cho công tác nghiên cứu khoa học cơ bản nước họ.

Năm nay ngoài Shimomura đoạt giải Nobel Hóa học còn có Yoichiro Nambu (sinh ở Nhật, sau vào quốc tịch Mỹ) và hai người Nhật là Makoto Kobayyashi và Toshihide Maskawa giành giải Nobel Vật lý.

Trước nữa, từng có 3 người Nhật được trao giải Nobel Vật lý do thành tích trong nghiên cứu hạt cơ bản – điều đó chứng tỏ Nhật Bản có thực lực mạnh trên lĩnh vực nghiên cứu này.

Thế nhưng báo Nhật Yomiuri Shimbun ngày 8/10 đăng xã luận viết: mấy năm nay có hiện tượng lớp trẻ Nhật “kính nhi viễn chi” (coi trọng nhưng lại xa lánh) với các ngành khoa học tự nhiên; trước tình hình đó nhà nước và các trường ĐH Nhật cần cải cách hệ thống đào tạo cán bộ nghiên cứu nhằm giúp thanh niên Nhật tăng cường ý chí tiến công khoa học.

Xã luận báo Mainichi Shimbun cũng thẳng thừng vạch rõ: chính sách khoa học kỹ thuật của Nhật nặng chú trọng lợi ích kinh tế, nhà nước coi khoa học kỹ thuật là chỗ dựa chính để kích hoạt nền kinh tế, công tác nghiên cứu của các trường đại học cũng theo đuổi hiệu quả lợi ích và ứng dụng.

Rõ ràng, các cơ quan truyền thông đại chúng Nhật có được sự tỉnh táo và lý trí hiếm thấy, các ý kiến của họ thật sự có tác dụng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính quyền Nhật.

Sự khác biệt về giáo dục

Xem xét lại nỗi hồ hởi quá đỗi của người Trung Quốc, có thể giải thích điều này như thế nào?

Tiền Vĩnh Kiện sinh tại New York năm 1952, từ bé đã say mê môn hóa học; vì mắc chứng hen xuyễn nên không được ra ngoài, phải thường xuyên ở nhà; thế là cậu ta bày biện đủ thứ chai lọ dưới tầng hầm để làm thí nghiệm hóa học.

Tiền Vinh Kiện (searlescholars.net)

Nếu Tiền Vĩnh Kiện từ nhỏ đều sống ở Trung Quốc thì sẽ thế nào? Dưới sức ép căng thẳng của kiểu giáo dục thi cử, e rằng những sở thích nho nhỏ và thiên tài sáng tạo của cậu sẽ sớm bị chết yểu.

Khỏi phải nói gia đình không khoan dung mà ngay các trường ĐH cũng chưa chắc đã dung nạp nổi một học trò kém sức khỏe như cậu.

Còn như Toshihide Maskawa (giải Nobel Vật lý) thì lại còn kém về môn ngoại ngữ. Nếu ông này ở Trung Quốc hiện nay – nơi chỉ đề cao Anh ngữ – thì thật là không thể tưởng tượng.

Nói cho tới cùng, thực ra là sự khác biệt về giáo dục. Viện sĩ Viện Khoa học Trung Quốc Dương Thúc Tử, nguyên Hiệu trưởng trường ĐH Khoa học kỹ thuật Hoa Trung từng vạch ra: nền giáo dục Trung Quốc đang theo đuổi cái tài giỏi mất linh hồn – trọng danh lợi thị trường, coi nhẹ ngành học, coi nhẹ giảng dạy, coi nhẹ sáng tạo ban đầu, coi nhẹ sự bồi dưỡng nhân cách đạo đức của học sinh, quên mất rằng những cái đó mới là linh hồn của nền đại học.

Sự suy ngẫm nói trên của báo Thanh niên Trung Quốc số ra ngày 10/10 rõ ràng đã đánh trúng "vấn nạn" giáo dục ở Trung Quốc hiện nay. Đây không những là sai sót của các trường ĐH cũng như của các hiệu trưởng trường đại học mà là cơ chế giáo dục và cơ chế đánh giá còn tồn tại những thiếu sót chết người.

-------------------

(*) Nhà bác học Tiền Học Sâm (Tsien Hsue-she) sinh ngày 11/12/1911 tại Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc. Năm 1934, tốt nghiệp Đại học Giao thông Thượng Hải. Năm 1935, ông sang Mỹ du học.

Nhà khoa học Tiền Học Sâm

Sau khi có bằng thạc sĩ ngành động cơ hàng không, Tiền Học Sâm vào làm việc tại Học viện California. Tại đây, dưới sự hướng dẫn của Giáo sư Von Kame chuyên gia hàng đầu thế giới về động cơ tên lửa, Tiền Học Sâm đã bảo vệ thành công học vị Tiến sĩ năm 1938.

Những kết quả kiệt xuất mà Tiền Học Sâm thu được về phương diện nghiên cứu động cơ tên lửa đã được các nhà khoa học và Chính phủ Mỹ đánh giá rất cao. Năm 1945, Bộ Quốc phòng và Bộ Không quân Mỹ đã trao tặng Tiền Học Sâm Huân chương hạng nhất vì “sự nghiệp phụng sự quốc gia”.

Vào những ngày tháng 8/1955, Chính phủ nước CHND Trung Hoa và Chính phủ Mỹ đã có một cuộc trao đổi hy hữu. Chính phủ Mỹ đồng ý cho Tiền Học Sâm được trở về Trung Quốc. Chính phủ Trung Quốc trả tự do cho 11 phi công Mỹ đang bị Trung Quốc giam giữ được trở về Mỹ. Sự kiện này lúc đó được coi là chuyện "thâm cung bí sử" với cả hai bên.

Tiền Học Sâm là người từ thập niên 1950 đã góp một phần không nhỏ vào việc phát triển ngành không gian cho Trung Quốc và nhờ đó mà trong năm 2007, Trung Quốc đã trở thành nước hàng thứ ba trên thế giới về vũ trụ và không gian, chỉ đứng sau hai đàn anh Nga và Mỹ.

Ông về hưu từ năm 1991 và sống một đời sống yên tỉnh ở Bắc Kinh. (Theo Công an nhân dân, erct.com)

Phản hồi của độc giả

HP: Đất nước mà từ người dân dến lãnh đạo sống khiêm tốn, thực tế thì mới tạo ra nước Nhật giàu có hạnh phúc như ngày nay. Tôi mong mọi tầng lớp người dân VN hãy học tập như người Nhật, chúng ta hãy khiêm tốn làm việc, cống hiến.

Phần thưởng lớn nhất là chúng ta sẽ được sống hạnh phúc, giàu sang...và tự thế giới sẽ công nhận. Không cần phải so sánh, hơn thua với một quốc gia nào, trong bất cứ lĩnh vực nào vì hơn, kém là bản chất tự nhiên và nó đã và mãi mãi tồn tại.

Họ và tên: Lý Thanh Xuân
Địa chỉ: Thượng 3 - Phú Mỹ - Phú Tân - An Giang
Email:

Thật thú vị khi có nhiều người châu Á đoạt giải Nobel năm nay và cũng rất tự hào về người châu Á. Nhưng gẫm lại mà chua xót thay cho người Việt Nam chúng ta. Có quá nhiều Tiến sĩ nhưng lại chưa có được một người nào được đề cử (chứ đừng nói tới đoạt giải Nobel).

Đề nghị Chính phủ và ngành Giáo dục nên xem lại chính sách về giáo dục của nướic ta. Hy vọng rằng trong vòng 20 năm tới VN sẽ có người đật giải Nobel.

Họ và tên: Nguyễn Văn Tạo
Địa chỉ: HCM
Email: vantaohcmy@yahoo.com

Nhìn lại hoàn cảnh của VN, chúng ta thấy điều mà bài báo đề cập đến vấn nạn của GD TQ hoàn toàn giống hệt "căn bệnh" của nền GD ta đang mắc phải: Trọng bằng cấp, thích khoe khoang thành tích (dù là thành tích ảo) dẫn đến sự dối trá lan rộng khắp.

Học tủ, học nhồi nhét những số liệu vô hồn dẫn đến tình trạng quá tải. Không chú trọng tư duy độc lập, tư duy sáng tao dẫn đến sản phẩm là những con người không thể thích ứng được với một thị trường lao động toàn cầu hoá vốn năng lực thật sự, nơi mà không có đất cho những lá đơn xin việc dựa trên "quan hệ".

Vì vậy, cải cách giáo dục ở VN sẽ là chuyện lẩn quẩn chừng nào chính những quan chức của bộ GD vẫn còn giữ não trạng "giáo dục đã đạt được những thành tựu đáng tự hào" và "cần phải quán triệt tinh thần của thông tư ABC, nghị quyết XYZ... vv và vv.

Nói chung tư duy định hướng cho nền GD VN vẫn quanh quẩn ở cái luỹ tre làng và đóng cửa dạy nhau mà thôi.

Họ và tên: Đông Hoàng
Địa chỉ:
Email: vonglongl@hn.vnn.vn

Thi thoảng, nhân cái giải Nobel, được đọc một cao kiến về một con người đoạt giải ở đâu đó, về một nền giáo dục, về một lĩnh vực chuyên ngành nào đó mới thấy sao thế giới cao vời vợi thế mà ta thì cứ loay hoay kiểu gì ấy như gà mắc tóc.

Một nước Nhật đang ở đỉnh cao của thế giới cũng còn biết "khiêm tốn" rằng mình cần phải học hỏi nhiều mới dám "so sánh" với ai đó... Họ có Minh Trị, và tư tưởng Duy Tân, muốn vươn lên mãi mãi của họ đã duy trì suốt vài trăm năm qua thật đáng nể, đáng học, đáng ngưỡng mộ...

Thương lắm VN ơi, bao giờ dân tộc ta mới có cái tư duy tầm cao ấy ? Bao giờ dân tộc ta mới dám mơ đứng trên đỉnh cao của khoa học, văn minh nhân loại để giơ cao giải Nobel?...

Họ và tên: Nghệ Quân
Địa chỉ: Huế
Email: nghe@pilc.com

Trung Quốc tự hào về Roger Y. Tsien cũng phải thôi. Điều đó chứng tỏ dân tộc TQ cũng rất thông minh không thua kém bất cứ ai nhưng bên cạnh đó họ cũng đã tự nhận thấy rằng tại sao tất cả những nhà khoa học TQ đoạt giải Nobel đều sống ở Mỹ cả? 

Vấn đề của tất cả những thất bại là do ở nền tảng xã hội và cái nền giáo dục sai lầm của họ, một nền giáo dục chỉ chạy theo hư danh, nhồi nhét nói sao nghe vậy, thi cử gian lận đã làm thui chột biết bao nhiêu tài năng Trung Hoa.

Họ và tên: Hữu Đạt
Địa chỉ: tổ 4
Email: trungtantrungtan@yahoo.com

Tôi nghỉ cho đến khi nào tính cách khiêm tốn của ngưới VN được như người Nhật thì khoa hoc VN mới có chỗ đứng trên TG.

Người VN mình thường không nhận ra minh sai, mình không đủ trình độ mà cứ biện lí do này, lí do nọ , như vậy thì làm sao mà tiến thân được đây. Không riêng gì trong KHCN mà trong tất cả mọi lĩnh vực.

Tốt nhất là người VN nên học theo cách làm người của NB. Hãy loại bỏ hết những tư tưởng phong kiến bị ảnh hưởng, không có lợi cho sự phát triển. Có như vậy VN mình mới đáp lại lòng mong mỏi đất nước "đàng hoàng hơn, to đẹp hơn" của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời.

Họ và tên: Tuan Anh
Địa chỉ:
Email: tuananhpkd@yahoo.com

"Rõ ràng, các cơ quan truyền thông đại chúng Nhật có được sự tỉnh táo và lý trí hiếm thấy, các ý kiến của họ thật sự có tác dụng là tiếng chuông cảnh tỉnh cho chính quyền Nhật".

Tôi mong rằng giới truyền thông Việt Nam cũng làm được như thế này, chứ cứ chạy theo dư luận, bề nổi... như một sô cơ quan truyền thông của ta bây giờ thì thất vọng quá...

Họ và tên: Banh Minh Cuong
Địa chỉ: 719 Tran Hung Dao, Q5,TPHCM.
Email: banhminhcuong@yahoo.com

Khát khao của người Trung Quốc đối với giải thưởng Nobel

Sự kiện  nhà khoa học người Mỹ gốc Hoa Tiền Vĩnh Kiện (tên Mỹ : Roger Y.Tsien ) được nhận giải Nobel hóa học 2008 thực sự gây ra một sự hứng khởi cho người Trung Quốc cho đến khi chính nhà khoa học này phát biểu một cách nghiêm túc khi được phóng viên Tân Hoa Xã phỏng vấn, rằng: Tôi không phải là nhà khoa học Trung Quốc, tôi sinh ra và lớn lên tại Mỹ, tôi rất vui mừng nếu thành tựu của tôi có thể mang lại sự khích lệ và chú ý của tuổi trẻ Trung Quốc đối với nghiên cứu khoa học.”

Người  Trung Quốc hứng khởi vì giải Nobel hầu như không có duyên đối với các nhà khoa học bản địa , họ cố tìm sự liên hệ qua mối liên kết huyết thống của người đoạt giải .

Hơn nữa, người TQ cũng có vẻ mất kiên nhẫn khi năm nay lại là một năm đặc biệt với thành công vang dội đưa người hoạt động bên ngoài phi thuyền Thần Châu 7, tiếp sau một thành công rực rỡ khác là Olympic 2008.

Có vẻ như sự thiếu duyên với Nobel là sự đáng tiếc sâu sắc đối với bảng kê thành tích của một cường quốc vừa trình làng những thành tựu KHKT, sức mạnh quốc gia vượt bậc của mình.

Sự khát khao cháy bỏng giải thưởng Nobel đúng lúc này đây chính là sự tiếc nuối pha lẫn chút chua xót trong tâm trạng của người TQ. Tâm trạng ấy hoàn toàn có thể hiểu được. Thậm chí, cư dân mạng và báo chí TQ còn đặt cả vấn đề có yếu tố chính trị hoặc kỳ thị trong quá trình bình chọn trao giải .

Người TQ cũng cụt hứng vì phát biểu của nhà khoa học Roger Y.Tsien. Có người cảm thấy ê chề vì cho rằng tiến sĩ Tsien không nhận mình là người TQ . Người khác cho rằng người TQ bị bẽ mặt chính vì tâm lý thấy người sang bắt quàng làm họ v.v…

Nhưng, dư luận luôn tỉnh táo !

Trên các mạng thông tin & báo chí TQ bắt đầu tranh luận vì sao người TQ bản địa (sinh trưởng , học tập, nghiên cứu ngay tại TQ)  lại chưa thể đoạt giải Nobel ?

Thứ nhất, tố chất của người TQ chắc chắn không tệ. Bằng chứng là những nhà khoa học như ông Tiền còn nguyên vẹn phẩm chất, thiên tư của giống nòi.

Thứ hai, trong quá khứ có những nhà khoa học sinh trưởng tại quê hương nhưng du học và nghiên cứu tại nước ngoài cũng được giải Nobel, điển hình như ông Tiền Học Sâm, bác của ông Tiền Vỉnh Kiện.

Thứ ba, môi trường giáo dục được hầu hết mọi người nhận định là yếu tố then chốt trong việc nuôi dưỡng, khơi dậy một tố chất, một thiên tư có mầm mống ưu việt.

Tiếc thay, hệ thống giáo dục của TQ hiện nay lại tồn tại quá nhiều hạn chế không dễ khắc phục. Thí dụ như đầu óc nặng khoa cử, trọng bằng cấp, từ chương … nhẹ về phat hiện, khơi dậy , nuôi dưỡng khích lệ óc sáng tạo của nhân tài.

Tục ngữ TQ xưa có câu đại ý là hạt giống gieo trồng ở phía nam sông Hoài thì ra trái quít , nếu trồng phía bắc sông Hoài thì có thể ra trái quất (không phải là quít). Thổ nhưỡng khác nhau sẽ cho ra quả với chất lượng rất khác nhau !

Tóm lại, người TQ đã biết thông qua một sự kiện riêng biệt để sáng suốt nhận định và thảo luận, hối thúc cái mới phải xuất hiện. Phải chăng đó chính là cái được kỳ vọng nhất của XH TQ hiện đại.

Phải chăng đó cũng là những trăn trở đối với người có tâm khi nhìn nhận thực trạng & hướng phát triển của nền giáo dục Việt Nam ?

Họ và tên: Lê Anh Dũng
Địa chỉ: Hà Nội
Email: Dunggiao61@yahoo.com

Hàng ngày bật tivi, đài, báo chỉ thấy đa phần là các thông tin Hoa hậu, bóng đá, giọng hát hay, nhà quản lý giỏi, nhà kinh doanh giỏi. Và những lời tung hô, tôn vinh cùng những khoản tiền thưởng khổng lồ ....

Mấy em học sinh đoạt giải Quốc tế mang danh cho đất nước, dân tộc thì ngậm ngùi, với những giải thưởng khiêm tốn và những thông tin ngắn ngủi. Với một tư duy, nếp nghĩ như vậy, thì thế hệ trẻ làm gì có khát vọng, đất nước và dân tộc bao giờ mới có người tài.


15/10/2008

http://www.tuanvietnam.net/vn/nhanvattrongngay/5047/index.aspx

Chủ Nhật, 24 tháng 8, 2008

Đàn Koto




Từ nhỏ tôi đã thích nghe tiếng đàn Koto, đối với tôi, giai điệu của đàn Koto là biểu trưng của đất nước Nhật Bản. Huyền bí và lôi cuốn

Sơ lược về đàn Koto Nhựt Bổn

(Theo blog CLB Tiếng hát quê hương)

<--Madame Yoko Awaya and Koto

Theo truyền thuyết, một nhạc sĩ người Trung Quốc đem một cây đàn tranh vào xứ Nhựt và cây đàn ấy gọi là So-no-koto hiện vẫn còn được sử dụng trong vũ điệu cung đình cổ truyền Bugaku. Hoặc một huyền thoại cho rằng vào thế kỷ thứ 7, có một bà thuộc dòng dõi quý tộc tên là Ishikawa Iroko, trong thời gian đi nghỉ ở miền quê, một hôm tình cờ bà nghe một âm thanh lạ khi đi dạo gần một động núi. Bà mới đi lại gần nghe và gặp một ông đạo sĩ người Trung Quốc đang khảy đàn tranh. Bà Ishikawa Iroko mê mẩn tâm thần và xin thọ giáo. Sau một thời gian học tập, bà ta mới trở về nhà, thuật lại cho mọi người nghe. Không ai chịu tin rằng chuyện đó có thật. Bà tức quá mới dẫn mọi người lại động núi thì không thấy ai hết, mà chỉ thấy trên vòm trời xanh ngay trên đỉnh núi lơ lửng một vầng mây trắng. Từ đó bà Ishikawa Iroko mở trường dạy đàn tranh và thành lập môn phái Kyushu. Điều chắc chắn là đàn tranh Koto Nhựt có từ thời đại Nara (710-793) được dùng trong dàn nhạc Gagaku (Nhã nhạc). Mãi tới đầu thế kỷ thứ 16, vào thời đại Momoyama (1574-1602), một nhà sư đạo Phật ở miền Bắc Kyushu tên là Kenjun (1547-1636) sáng tác những bài hát đầu tiên với tiếng đệm của đàn tranh. Loại nhạc mới này gọi là Tsukushi-goto lấy tên của tỉnh thành nơi nhà sư đã sống. Sau đó có một nhà sư khác tên là Yatsuhashi Kengyo (1614-1685) ở Kyoto học cách đàn và hát theo thể nhạc mới tsukushi-goto và ông lại tạo ra một thể điệu mới cho nhạc koto bằng cách phỏng theo hình thức cấu tạo sáu bài hát của tsukushi-goto, và được gọi là kumi-uta.

Sự khác biệt giữa hai trường phái Tsukushi-goto và Yatsuhashi nằm trong cách lên dây đàn và cách sử dụng điệu. Trường phái Tsukushi-goto lên dây đàn theo điệu Ryo của nhã nhạc (gagaku), nghĩa là âm giai với 12 bán cung trong khi trường phái Yatsuhashi chỉ dùng hai điệu mới gọi là Hirajoshi (Sol-sol thấp một bát độ-SiĐo-Mi-Fa-La-SiĐo-Mi-Fa-La-Si) và Kumoijoshi (Mi-La thấp một quãng 5 - Sib-Re-Mi-Fa-La-Sib-Re-Mi-Fa-La-Si) dựa theo điệu In (âm) âm giai lên gồm các nốt: Mi-Fa-La-Si-Re-Mi trong khi âm giai xuống gồm các nốt: MiĐo-Si-La-Fa-Mi. Hai điệu Hirajoshi và Kumoijoshi trở thành hai thang âm tiêu biểu và đặc thù của nhạc Nhựt Bổn ngày nay. Nhà sư Yatsuhashi và những người học trò của ông có sáng tác một số bài độc tấu đàn tranh nhưng hầu hết các bài đặt ra đều là bài hát với phần đệm đàn koto. Đồng lúc với sự phát triển thể nhạc mới Tsukushi-goto, nhạc shamisen (shamisen là một đàn dây giống như cây đàn tam của Việt Nam) cũng bắt đầu lộ diện ở Nhựt. Ông Ikuta Kengyo (1656-1715) mới phối hợp đàn shamisen và đàn tranh koto trong khi trình diễn Ji-Uta (một loại hát đệm đàn Shamisen). Từ đó về sau, những bài bản gồm có một phần ngắn hát và một phần dài đàn tranh koto. Phần đánh đàn gọi là Te-goto và thể cách trình diễn các bài hát kiểu đó gọi là Te-goto-mono.

Trong khi Te-goto-mono được bành trướng mạnh ở Kyoto và Osaka, thì ở Edo, một nhạc sĩ khác tên là Yamada Kengyo (1757-1817) mới tạo ra một thể cách mới cho nhạc koto là phối hợp nhạc hiện đại shamisen và nhạc koto. Vào cuối thời đại Edo (1603-1867) ông Yoshizawa Kengyo ở Nagoya lại nghĩ ra cách để đàn koto một mình đệm bài hát mà thôi. Kiểu này đã từng dùng trong Kumi-Uta, nhưng có khác là ông Yoshizawa Kengyo trích lời ca qua các bài thơ cổ điển trong các cổ thi tuyển danh tiếng như Kokin Waka Shu, Kin Yo Shu, vv... Ông ta lại chế ra một cách lên dây hoàn toàn khác hẳn hai điệu âm (In) và dương (Ryo) và đặt tên là Kokin-joshi lấy từ tên Kokin Waka Shu mà ra. Âm giai như sau: Mi-La-Si (thấp)-Re-Mi-Fa-La-Si-Re-Mi-Fa-La-Si.

Từ khi nhạc Tây Âu bắt đầu xâm nhập đất Phù Tang vào đầu thời đại Meiji (1868 trở về sau), nhiều nhạc sĩ cổ truyền Nhựt thử sử dụng các âm giai mới vào trong nhạc Nhựt và một số ít đã thành công. Miyagi Michio (1895-1956), nhà soạn nhạc Nhựt đầu tiên đã phối hợp hai luồng nhạc Á Âu, sử dụng hai nhạc ngữ Đông Tây trong khi soạn các nhạc phẩm cho đàn koto. Từ đó những nhạc sĩ trẻ tuổi và các người đánh đàn tranh koto đều bắt chước ông Miyagi Michio. Có một số phê bình ông và lại thử một hướng đi khác. Gần đây, nhứt là từ khi sau thế chiến thứ hai (1939), rất đông nhà soạn nhạc Nhựt thi đua nhau sáng tác nhạc đương đại dựa trên nhạc cổ truyền. Cây đàn tranh Koto làm bằng cây pawlonia, dài 1m80. Mười ba dây tơ căng dài trên mặt âm bảng. Mười ba con nhạn hình chữ A hứng chịu 13 dây đàn. Đàn tranh Koto không có trục giống như đàn Kayakeum của Triều Tiên. Người khảy đàn mang móng vào ngón tay cái, trỏ và giữa của bàn tay mặt và dùng ba ngón tay trỏ, giữa, và áp út của bàn tay trái mang móng đeo ở ngón tay thì đủ biết người đàn thuộc trường phái nào (Gagaku, Tsukushi-goto, Ikuta, Yamada). Đàn tranh koto có thể đàn độc tấu, tam tấu với với đàn shamisen, ống tiêu shakuhachi, hay đàn trong dàn nhạc cổ điển hay cận đại.



GS Nguyễn Văn Tuấn: Thư gửi Bộ Y tế Úc xin viện trợ Vaccine phòng covid

 Ngày 26-7-2021 Hôm nay nhận được một lá thư từ Bộ Y tế Úc, với một chút hi vọng về chuyện vaccine. (xem thư đính kèm email) Các bạn có lẽ c...