Hiển thị các bài đăng có nhãn lịchsử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn lịchsử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011

Người xưa đâu tá!

Chú Kiệt, (cháu ngoại cụ Hồ Tá Bang) GS Trần Văn Khê - bà Sáu Tường Vân
(Ảnh: Ngọc Hân)

Từ khi má sanh tôi ra cho đến nay, tôi sống lại ngôi nhà trên đường Phan Chu Trinh. Con đường nhỏ quẹo vào đường nhà Thầy tôi cũng là đường Phan Chu Trinh... và tôi bất ngờ khi có cơ hội gặp gỡ và nói chuyện với một nhân chứng lịch sử liên quan đến quá trình đấu tranh cách mạng của cụ Phan Chu Trinh. Người đó là cô Sáu Tường Vân, bạn thân của Thầy Khê, con gái của Hồ Tá Bang, là nhân sĩ yêu nước thời cận đại.

Chiều hôm qua 16/2/2011, tôi đến nhà thăm bà Tường Vân. Và may mắn được Bà kể câu chuyện của gia đình có truyền thống yêu nước và về cụ Phan Chu Trinh.

Quan điểm tranh đấu của cụ Tây Hồ như thế này:
- Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh
- Kêu gọi trí thức Tây học về nước đấu tranh bất bạo động.

Thực hiện theo tư tưởng của cụ Phan, cụ Hồ Tá Bang cùng anh em bạn bè lập nên Liên Thành Thương Quán để có kinh phí  "khai dân trí" tại trường Dục Thanh, nơi dạy con em nghèo và yêu nước kiến thức tiến bộ văn minh và tinh thần yêu nước.

(xem chi tiết http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ty_Li%C3%AAn_Th%C3%A0nh)

Và cho đến ngày nay, con cháu cụ Hồ Tá Bang đã đạt được nhiều thành tựu như bác sĩ Hồ Tá Khanh, con trai cụ tham gia đấu tranh cách mạng, viết sách y khoa và tác phẩm sử học Thông sử liên thành
(xem chi tiết http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=N0NDQTBDMEI&key=B%C3%A1c+s%C4%A9+y+khoa+H%E1%BB%93+T%C3%A1+Khanh&type=A0&stype=0)

Đặc biệt, gia đình họ Hồ đã hỗ trợ nhiều quỹ học bổng cho các cháu học sinh ở quê nhà, khuyến khích học tập theo tư tưởng truyền thống của cha ông. Cháu nội cụ Hồ Tá Bang, ông Micheal Hồ Tá Khanh (tên ở nhà là Quốc), đem kỹ thuật thủy lợi về vùng quê Bình Thuận khô cằn sõi đá để giúp cho nông dân xứ Phan Thiết, Bình Thuận canh tác đỡ nhọc nhằn hơn. Tôi vô cùng xúc động khi nghe bà Sáu Tường Vân kể ông Hồ Tá Khanh nói rằng "quyết đem hết tài sản về giúp quê hương, không để rơi một đồng xu ở xứ người"...

Đẹp thay truyền thống yêu nước, yêu quê hương của một gia đình trí thức, con cháu tiếp nối di nguyện của cha ông, chăm chỉ học tập & cống hiến tài năng góp phần giúp đỡ dân tộc với tất cả tấm lòng.

"Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm
Người xưa đâu tá hãy giúp nổi gió mưa lửa hồng
Người xưa đâu tá hãy giúp cho dân Lạc Hồng!"
(Trích tác phẩm người xưa đâu tá của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước)

Người xưa đâu, người xưa đây......... đã về với dân Lạc Hồng

Chú thích:
Các bài viết về Hồ Tá Khanh (hay Hồ Tá Quốc)
http://pontvk.org/chuong-trinh-khac/nang-c%E1%BA%A5p-dung-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-d%E1%BA%ADp-saloun-binh-thu%E1%BA%ADn
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Ong-tay-lam-thuy-loi-o-Binh-Thuan/31216
http://www.baobinhthuan.com.vn/vn/default.aspx?cat_id=679&news_id=36685

Các chi tiết về cụ Phan Chu Trinh, cụ Hồ Tá Bang tìm trên google sẽ thấy.

Lúc trước tôi từng viết 1 bài cũng lấy tựa là "Người xưa đâu tá!", bài viết ấy như câu hỏi, còn đây là câu trả lời
http://lengochan.multiply.com/journal/item/172

20g50' thứ năm 17/2/2011

Ngọc Hân


Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010

Người xưa đâu tá!


Người xưa đâu tá!, một bản hùng ca gợi nhớ những chiến công của người xưa oai hùng đất Việt của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.
Trước gì tôi chỉ biết bài hát này qua lời kể của Thầy trong tập "Hồi ký", tối hôm qua lần đầu tiên tôi được nghe bài hát tuyệt vời này...
Thật tình cờ, tôi may mắn được đến giúp Thầy soạn bài trả lời phỏng vấn một tờ báo. Trả lời cho câu hỏi về kỷ niệm sâu sắc thời thanh niên tại miền Bắc, Thầy đã chọn sự kiện Hội sinh viên Việt Nam trình diễn bài "Người xưa đâu tá" ở trường ĐH Hà Nội...
Tôi giúp Thầy tìm lời chính xác của bài hát nhưng sau thật khó, một tác phẩm vĩ đại bị lãng quên, cũng may có 1 bài do NSND Quang Thọ trình bày đăng trên website Hội nhạc sĩ Việt Nam.
http://www.vnmusic.com.vn/music/index.php?aid=nghenhac&id=3169

 Nhìn Thầy nghe bài hát và nhẩm theo lời tôi như nhìn thấy hình ảnh của những thanh niên sôi nổi nhiệt huyết vào năm 1942 tại buổi trình diễn. Những khoảnh khắc lịch sử ghi dấu ấn thời trai trẻ, hình ảnh các anh chị sinh viên đốt cháy mình vì quê hương đất nước, vì tình yêu dân tộc...

Trong buổi chuyên đề nghệ thuật định kỳ của Thầy vào tối thứ 7 25/9, có bạn trẻ hỏi Thầy "làm sao để có tình yêu quê hương đất nước"...

Tôi chạnh lòng trước sự băn khoăn của các bạn trẻ, thời nay các bạn năng động lắm, làm việc, học tập, sinh hoạt, dường như thời gian không bao giờ đủ với các bạn... Các bạn học rất giỏi, cũng say mê khám phá, hoặc thỉnh thoảng bỏ quên thời gian trong quán cafe... Nhưng mà các bạn lại mất phương hướng trong khái niệm tình yêu quê hương, yêu dân tộc

Có lẽ những bài học nặng nề không khơi gợi được trong tâm hồn các bạn... Các bạn hoạt động liên tục nhưng rồi lại không hiểu vì sao...

Tôi nhìn ánh mắt của Thầy chứa chan niềm vui khi nhắc lại hồi ức thời đã qua, lúc đó tôi đã cố gắng kiềm những giọt nước mắt của mình trước một nhân chứng lịch sử...

Tối nay, trong khi cố gắng tìm bài "Người xưa đâu tá" xem ngoài trang web của Hội nhạc sĩ Việt Nam còn có ai nhớ đến không... rất tiếc là không có...

Mà thay vào đó, tôi gặp lại hình ảnh của Thầy và những người bạn của Thầy trong bài viết của cụ Huỳnh Văn Tiểng... Những ký ức sống động mà ngày nay hiếm người bạn trẻ nào có được

Từ những hoạt động này, một ngọn lửa hồng đã cháy rực trong tim soi sáng cho Thầy Khê, bác Phước, bác Tiễng và hàng trăm thanh niên yêu nước ngày ấy nỗ lực sống, học tập và làm việc vì non sông đất Việt. Và họ đã để lại cho cuộc đời biết bao thành quả quý báu

Kỷ niệm về những ngày tháng Tám năm 1945 ở Hà Nội và Sài Gòn

… Sau thời kỳ học sinh, rồi đỗ tú tài, năm 1941 tôi ra trường Đại học Đông Dương tại Hà Nội, trường Đại học duy nhất ở Việt Nam lúc đó. Tôi theo học ngành Luật. Từ đó lại lao vào phong trào hoạt động. Anh em trong Nam đi học ngoài đó có đến 60, 70 người, cấy vào tổ chức: Hội Nam kỳ tương tế (gồm những người trong Nam ra Bắc làm việc). Hội này có quỹ rất lớn. Có nhà rất to ở Hàng Vôi, có nghĩa trang riêng. Tổng đốc Hà Tây hồi đó là người Nam kỳ nên hội đó rất mạnh. Anh em trong phong trào sinh viên học sinh yêu nước Nam kỳ khi ra Bắc lại nắm giữ hầu hết chứ vụ trong Ban Chấp hành của Hội Nam kỳ tương tế.

Dùng trụ sở Hàng Vôi thành nơi hoạt động cho Hội sinh viên, chúng tôi tham gia Đại hội Tổng hội sinh viên Đông Dương viết tắt là AGI, chiếm lấy địa vị chủ chốt trong Ban Chấp hành như tôi là Phó chủ tịch, ủy viên phụ trách tuyên truyền thể thao, âm nhạc... Bên cạnh tôi có vài chục anh em và có những gương mặt nổi bật như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ. Chúng tôi huy động thanh niên trí thức vào luồng cách mạng Cứu quốc. Nếu không, lớp thanh niên đó học đại học, ôm mộng ra làm quan, làm giàu. Phần lớn họ là con ông cháu cha, nhà giàu nên con đường của họ phải thế nhưng chúng tôi cố gắng thuyết phục họ thay đổi cách nghĩ. Bên cạnh lớp thanh niên con ông cháu cha còn có những sinh viên gia đình trung lưu. Chúng tôi cũng tìm cánh thuyết phục họ tham gia phong trào của cách mạng.

Ngày đánh dấu bước ngoặt của phong trào sinh viên là ngày 16 tháng 3 năm 1942, nhằm ngày giỗ tổ Hùng Vương, chúng tôi thuê ba toa xe lửa, cùng học sinh trường Bưởi đi lên đền Hùng. Và lễ viếng vua Hùng thành lễ tuyên thệ của lớp thanh niên trí thức mới trung thành với Tổ quốc. Trong đêm đó bài hát Tiếng gọi sinh viên ra đời, gây ấn tượng rất mạnh. Bài hát do tôi viết lời, Lưu Hữu Phước phổ nhạc. Bài hát có đoạn:

"Này sinh viên ơi đứng lên đáp đền sông núi

Cùng nhau ta đi mở đường theo lối

Vì non sông nước xưa, cùng nhau ta đi lên!

Dù gian lao khó khăn ta cùng nhau kết đoàn".

Bài “Tiếng gọi sinh viên" ra đời đúng lúc và phù hợp với tâm lý của thanh niên nên được chấp nhận nhanh lắm. Bài hát kêu gọi tha thiết:

"Thanh niên ơi! Ta quyết đi đến cùng

Sinh viên ơi! Ta nguyện đem hết lòng

Tiến lên cùng tiến, sá chi đời sống

Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng"

Bài hát đó là công cụ chủ lực của sinh viên, kết đoàn thanh niên cả nước, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng. Sau này chúng tôi cho in bài hát này gửi đến nhiều nơi.

Bên cạnh bài “Tiếng gọi sinh viên" tôi còn có thêm một số bài hát hỗ trợ nữa. Bài "Người xưa đâu tá" gợi lại hình ảnh các bậc tiền nhân:

"Ngàn năm lưu dấu có tiếng nước non vang gọi

Người xưa đâu tá có khóc trong đêm lạnh lẽo?

Người xưa đâu tá có khóc những khi trời chiều?

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia trên sóng Bạch Đằng làm chủ.

Tưởng nhớ tới bao khi ai kia kéo quân mở mang miền Trung.

Người nay đâu tá cho thổi bùng ngọn lửa

Người nay đâu tá còn nhớ bao lâu nữa

Trời nay đâu tá, say mê lên đường lợi danh

Người nay đâu tá hãy nhớ đến dân Lạc Hồng..."

Bài hát kêu gọi những người còn mê mải trên đường lợi danh bừng mở mắt sáng soi gương những lớp người tài, đồng cam nổi lên.

        "Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm chớ nên thiệt thòi"

Giai điệu lắng xuống:

"Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm

Người xưa đâu tá hãy giúp nổi gió mưa lửa sóng

Người xưa đâu tá hãy giúp cho dân Lạc Hồng!"

Bài này chúng tôi giới thiệu ngay trong đêm hội trên đền Hùng trước đông đảo học sinh trường Bưởi. Hàng trăm người cùng hợp xướng tạo nên không khí sôi động thúc đẩy sinh viên phải biết đoàn kết. Bài hát nữa là bài Bạch Đằng giang có câu kết thúc:

                    "Đằng giang vẫn sáng để cho nòi giống soi chung".

Các bài hát có sức cổ vũ động viên sinh viên rất mạnh. Từ văn hóa ra phong trào.

Một khi vỡ vạc ra, người tri thức không còn quanh quẩn với mơ ước hẹp  hòi, vợ đẹp con khôn nữa mà làm sao cho xứng đáng với tổ tiên như trong lời thề trong hội đền Hùng.

Cũng trong đêm 16 tháng 3 năm 1942 đáng nhớ đó anh Dương Đức Hiền (Chủ tịch), tôi cùng anh Nguyễn Sĩ Dư là Phó Chủ tịch Hội sinh viên đến trước đền Thượng có đặt một bên chiêng, một bên trống, chúng tôi đánh liên tục mấy hồi, còn thanh niên, sinh viên thì lần lượt đi từ dưới lên. Anh Dương Đức Hiền, Chủ tịch Hội sinh viên khi đó là cử nhân Luật học, chuẩn bị lên hàng tiến sĩ nhưng cũng đã vứt bỏ tất cả đi theo con đường tranh đấu cho tự do của đất nước. Anh đã bước lên thay mặt cho toàn thể thanh niên trí thức cất lời thề thiêng liêng. "Thưa các bậc tiền nhân! Chúng con là con cháu, ngày nay gặp nỗi nhục mất nước nên đứng lên hoạt động, đoàn kết nhau lại để tìm lại tự do. Mong các bậc tiền nhân chứng giám và hỗ trợ cho chúng con!"...

Hội đền Hùng đánh dấu bước ngoặt trong công tác tư tưởng của Hội sinh viên. Chúng tôi hướng tới đích giáo dục lòng yêu nước trở về tổ tiên, đoàn kết với nhau phụng sự đất nước.

Sau đó tôi ở ban tuyên truyền phụ trách báo viết bằng tiếng Pháp Le bloc, tuyên truyền trong giới học sinh, sinh viên. Báo ra hai kỳ một tháng, lấy một bài xã luận ngắn gọn kêu gọi lớp trẻ. Luôn luôn có khẩu hiệu mào đầu trên măng sét: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". "Thất phu” có trách nhiệm thì sinh viên phải có trách nhiệm chứ. Tờ báo đó rất có ảnh hưởng. Ban đầu chỉ là thông báo những hoạt động của sinh viên như phóng sự về đêm tuyên thệ tại đền Hùng. Sau là tiếng gọi thanh niên, sinh viên đoàn kết tương trợ. Thứ ba là trở về nguồn gốc dân tộc. Các lễ hội dân tộc luôn luôn được đưa lên báo.

Chúng tôi mới ra Hà Nội nên luôn luôn ao ước giữ lấy ý tưởng yêu nước. Đặc biệt chúng tôi sống xa miền Nam, nơi quê hương chôn nhau cắt rốn nên càng đề cao lòng yêu đất nước, quê hương. Chúng tôi luôn động viên sao cho xứng đáng con Rồng, cháu Lạc. Vừa ra Bắc chúng tôi đã tổ chức những cuộc "hành hương". Hà Nội thì hành hương đến đền "Hai Bà Trưng". Chúng tôi ngủ tại đó, hội thảo tại đó quy mô lắm. Chúng tôi muốn qua đó giữ truyền thống ông cha yêu nước dựa vào tinh thần tự hào dân tộc và tự hào vì gương oanh liệt của cha ông.

Có tờ báo trong tay, chúng tôi cổ vũ phong trào yêu quê hương đất nước, đem lại lòng tin cho sinh viên. Chúng tôi kết hợp tuyên truyền những bài hát, những tờ báo. Phong trào yêu nước trong sinh viên đã lên đến cao điểm không chỉ ở Hà Nội mà trong cả nước.

Bước ngoặt thứ hai trong phong trào sinh viên là dấy lên phong trào thương dân. Năm 1941, chúng tôi tổ chức các trại hè của sinh viên. Thời kỳ này thực dân Pháp chủ trương chính sách xoa dịu, mua chuộc sinh viên, thanh niên trí thức ở Đông Dương. Tên phó Toàn quyền Đông Dương, Tổng ủy trưởng thể thao thanh niên dùng mọi cách xoa dịu chúng tôi. Khi biết chúng tôi có ý định tổ chức trại hè, hắn gọi lên nói thế này: "Các anh là người trí thức cao cấp, sau sẽ là người cai trị đất nước. Chúng tôi không đành để các anh khó khăn. Vì vậy nếu anh muốn gì chúng tôi cung cấp quỹ để sinh hoạt, trưng dụng một số biệt thự sang trọng ở Sa Pa, Tam Đảo, Đồ Sơn cho các anh nghỉ ngơi, cung cấp phí cho các anh tập thể thao". Nhưng chúng tôi đã từ chối nhã nhặn: "Chúng tôi rất cảm ơn Tổng ủy trưởng nhưng chúng tôi muốn tự lực khỏi phiền hà đến nhà nước!".

Chúng tôi tổ chức đêm văn nghệ dạ hội sinh viên lấy quỹ để tổ chức trại hè. Qua đêm dạ hội, chúng tôi tranh thủ giáo dục lòng tự hào dân tộc bằng cách đưa dân ca 3 miền lên, đưa bài hát yêu nước lên. Chúng tôi còn diễn những vở kịch yêu nước. Ban đầu là những vở kịch có tính chất nhớ nước như là "Sinh viên yêu nước thời đại", giáo dục sinh viên hãy xứng đáng với cha ông giúp đỡ đồng bào. Sau đó diễn những vở kịch kêu gọi cao hơn như vở kịch "Đêm Lam Sơn khởi nghĩa" về Lê Lợi, vở "Nợ Mê Linh” về Hai Bà Trưng. Đây cũng là lần đầu tiên đưa ra vở nhạc kịch giai điệu dân tộc là "Tục lụy”. Vở kịch nói về 3 cô tiên lạc xuống trần gian, một cô ở lại lấy một tiều phu sinh con, phục vụ nhân loại, xã hội. Vở kịch giáo dục thiên chức phụ nữ nhưng còn có ý nghĩa sâu sắc hơn là giáo dục tình yêu nhân dân. Các đêm dạ hội sinh viên ở Hà Nội, Sài Gòn đều rất đông người tham dự. Tiền thu được từ các dạ hội chúng tôi dùng để tổ chức trại hè.

Khác với mong muốn của đế quốc là những sinh viên con nhà khá giả, con ông cháu cha, được ưu đãi của xã hội thì sẽ được hưởng những buổi trại hè an nhàn, ở những nơi phong cảnh hữu tình, chúng tôi đã cắm trại ở những nơi bùn lầy nước đọng, ngay bên xóm những người lao động cực nhọc. Ở Hà Nội, chúng tôi cắm trại ở Tương Mai và Khương Hạ là nơi dân nghèo, thất học, bệnh tật nhiều. Chúng tôi đi trại hè không phải để vui chơi đơn thuần giải trí mà đến đó để điều tra xã hội học. Ở Trung Bộ, chúng tôi cắm trại ở Hạc Trì (Thanh Hóa), ở Nam Bộ thì cắm trại nơi suối Lồ (Thủ Đức). Đây là dịp để sinh viên tiếp xúc với nhân dân, trước đây đã hướng về tổ tiên rèn luyện ý chí yêu nước, cứu nước thì nay rèn luyện tình thương yêu dân để giúp dân và cũng nhằm để sau này tập hợp lực lượng cứu nước. Dân tộc có lịch sử là cha ông dựng nên, hiện tại là dân chúng nghèo khổ, phải đứng lên cứu nước.

Dịp đó chúng tôi điều tra xã hội học xem bao nhiêu người thất học, bao nhiêu người nghèo khổ, bao nhiêu người bị ức hiếp, bao nhiêu người đã tiếp xúc với phong trào cách mạng trước đây. Chúng tôi lập những hội truyền bá quốc ngữ, truyền bá vệ sinh, phổ thông luật học, phổ biến bài hát yêu nước. Các hoạt động này nâng tinh thần cách mạng thật sự trong mỗi người. Tại ký túc xá Nam kỳ, có mấy sinh viên con đốc phủ, con quan lại Sài Gòn học ở miền Bắc mỗi người thuê một đứa bé con để hầu hạ cơm nước, giặt giũ. Các sinh viên này mắng chửi đánh đập những em bé đó dữ lắm. Chúng tôi bất bình, họp nhau lại ra yêu cầu cấm đánh đập trẻ em, cấm sỉ vả, coi thường dân Bắc Bộ nghèo nàn. Chúng tôi lấy đó làm tiêu chuẩn đầu tiên để đấu tranh bảo vệ dân mình, đồng bào mình. Chúng tôi đã thắng lợi.

Đi xuống dân thấy dân khổ càng nuôi thêm lòng yêu nước.

Tôi sáng tác bài hát Điều mong gửi gieo ánh sáng:

"Lòng vui sướng anh em ơi tim thấm nhuần tình đồng bào

Mình đi gieo khắp nơi nơi nông thôn tối tăm, đời mịt mù xót xa

Tiếng nông thôn, tiếng đồng quê thiết tha".

Qua bài hát, tôi muốn kêu gọi thanh niên đến với dân nghèo khổ, dốt nát giúp đỡ họ.

Rồi chúng tôi còn phổ biến bài Khóc Quốc hồn của anh Nguyễn Minh Kha:

"Hương tàn theo khói đưa

Khơi nguồn thương tiếc xưa

Tiếng non nước vang dậy vang".

Trong khi phong trào đang dậy, những bài hát yêu nước càng thêm xúc động lòng người.

Sau khi phổ biến những bài hát kêu gọi đến với dân, chúng tôi tiến một bước nữa là kêu gọi liên kết những người cùng khổ. Chúng tôi phổ biến bài hát 80 năm sống đời tối tăm:

"80 năm sống đời tối tăm

Ta diệt trừ… "

Chúng tôi còn tiếp tục khơi dậy phong trào thông qua báo chí dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ. Ngày đó do bị địch khủng bố, phong trào phía Nam rất khó khăn. Năm 1943, Tổng bộ Việt Minh (Trung ương Đảng) tiếp xúc với chúng tôi và đến năm 1944 đã khuyên chúng tôi bỏ học vào Nam. Khi đó trục phát xít đã gẫy rồi, thua rồi, thời cơ giành độc lập đã đến.

Thế là tôi bỏ học, đạp xe đạp trở về Nam. Ngày đó lưu truyền bài hát:

"Mau về Nam mở tung nguồn sống

Kiếp tùng chi hùng anh trong thời xanh

Hà thành nay suốt đêm còi hú

Báo động liền chua xót

Ngoài ngày sương đời thanh niên buồn trôi lững lờ

Trong hầm tối tăm, đợi âm thầm

Nay ta quyết mở tung nguồn sống

Ríu rít tàu về Nam".

Thế là bao nhiêu anh em miền Nam cùng lấy cớ bom đạn không học được để trở về Nam.

Tiếp sau giai đoạn một, kêu gọi yêu nước, giai đoạn hai, xuống dân, chúng tôi thực hiện giai đoạn ba là tập hợp lực lượng để đấu tranh. Tôi viết bài hát Xếp bút nghiên kêu gọi anh em:

"Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu

Xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân

Sơn hà xao xuyến tiến ta tiến

Một lòng yêu non sông, vì dân ta liều thân

Thấy đoàn ta tiến tới nước non chào mời

Hèn thay đời nhàn cư, hèn thay vui yêu đương

Lúc quê hương cần người, xếp lại tơ vương giã từ

Hồn Vệt Nam hùng thiêng, từ ngàn xưa bừng rỡ

Kêu ta lên đường cứu quốc gia".

Khi chúng tôi đạp xe đến Ninh Bình thì bị địch bắt đưa về Hà Nội để lấy cung. Chúng tôi không khai là có quan hệ với Việt Minh nên chúng không khép được chúng tôi vào tội gì. Sau 10 ngày giam giữ ở Hà Nội, bọn chúng thả chúng tôi ra và chúng tôi lại rong ruổi về Nam.

Dọc đường qua sông Gianh, tôi viết bài Hồn sông Gianh lên án sự chia rẽ dân tộc. Tôi còn viết bài hát Nam tiến vì dọc đường đi thấy đất nước mênh mông trong tôi trào dâng lòng biết ơn tổ tiên có công khai phá đất nước.

Khi về đến Sài Gòn chúng tôi đấu tranh để lập ra Hội Quốc ngữ công khai. Lấy tờ báo Thanh niên của Huỳnh Tấn Phát làm tờ báo của Hội để hoạt động, tuyên truyền yêu nước.

Chúng tôi thuyết phục một đại phú gia, đại địa chủ, Pháp quan Ngân hàng Misenmi Nguyễn theo phong trào, làm Chủ tịch Hội chữ quốc ngữ để Pháp không nghi ngờ.

Chúng tôi đang hoạt động rất ăn khớp thì bị địch bắt giam 9 tháng. Chúng tôi giữ bí mật cho Việt Minh nhưng chúng vẫn nghi ngờ vì trước đó chúng đã khám phá biết chúng tôi có ý định mua súng ống, xe ô tô...

Trong tù, chúng lung lạc ý chí của anh em dữ lắm. Chúng tôi bị giam trong khám Lớn sau chuyển lên Chí Hòa. Chúng không cho người nhà thăm mà chỉ cho gửi quà vào dịp cúng cô hồn mỗi tháng. Chúng xếp quà dài trên lối đi, cúng cô hồn rất nặng nề. Nhiều người mất tinh thần, tỏ ra bi quan. Nhưng chúng tôi không bi quan, nao núng. Chúng tôi hát vang những bài hát yêu nước của phong trào sinh viên ngày trước. Chúng tôi còn sáng tác bài hát trong tù: Xin giữ lời nguyền:

"Xa nhau nhớ nhau

Nhớ nhau ta xin giữ lời nguyền lúc nào

Ráng gìn tâm trí thanh cao

Tấm lòng tranh đấu chớ nao!".

Sau khi ra tù, tôi lại tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong, tập hợp lực lượng ra hoạt động công khai hợp pháp. Lúc này Nhật sắp đầu hàng nên không dám đàn áp dân, vì vậy Nam kỳ mới có sức để tổng khởi nghĩa.

Trong Đoàn Thanh niên Tiền phong bài Lên đàng của tôi được chính thức làm bài đoàn ca tươi sáng. Nhịp lời hai tôi chỉ viết trong mấy tiếng đồng hồ, rất kịp thời.

Chúng tôi ra tờ báo Tiến làm đại diện cho đoàn Thanh niên Tiền phong. Rồi Tổng khởi nghĩa bùng lên nhanh, gọn. Chúng tôi cướp chính quyền trong ba tiếng đồng hồ từ 7 giờ đến 10 giờ tối ngày 24-8-1945 đã hoàn thành. Chế độ nô lệ gần một thế kỷ sụp đổ.

Sáng ngày 25 tháng 8, hàng triệu dân Sài Gòn và các tỉnh lân cận chào mừng độc lập. Rồi đến toàn quốc kháng chiến. Người dân Nam Bộ thấy chính quyền là của mình nên họ quyết sống chết để bảo vệ. Tôi từ trong phong trào cách mạng mà trưởng thành. Trong đó luôn khắc sâu những kỷ niệm những ngày hoạt động dùng báo chí kết hợp các bài hát để tuyên truyền, vận động quần chúng, hoạt động cách mạng. Nhiều báo khác đã ủng hộ phong trào như tờ báo Dân tộc, báo Kinh điền…

Một số cá nhân và tập thể ở miền Nam cũng ủng hộ chúng tôi như ông Hồ Sĩ Nguyên ủng hộ gián tiếp, trường Quốc ngữ ủng hộ phong trào ca nhạc mới của sinh viên, ủng hộ trại hè…

Cũng thời gian này chúng tôi còn ra tờ báo Chàng lính, cơ quan của ủy ban kháng chiến Nam Bộ, tôi làm Phó chủ tịch. Sau đó tôi phụ trách thông tin Nam Bộ, nên khuyến khích đỡ đầu tờ báo của Khu 7, khu 8, khu 9, như báo Tiếng súng kháng địch của Khu 9, báo Cảm tử của Khu 7. Báo các đoàn thể cũng được chúng tôi khuyến khích như báo Độc lập của Đảng Dân chủ.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở ra cuộc chiến giữa ta với Pháp. Tuy lúc đó chưa bắt đầu kháng chiến ở Bắc Bộ nhưng Pháp đánh Nam Bộ là coi như bắt đầu chiến tranh rồi. Ta và Pháp đã đàm phán tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Phôngtennơblô ý muốn ta nhường Nam Bộ cho chúng. Chúng muốn lấy miền Nam làm bàn đạp. Đồng thời, đây là ban công để đánh lan ra Trung Bộ và Bắc Bộ. Vì thế, không Hội nghị nào có thể cứu vãn. Bác Hồ đã vớt lại bằng cách ký Tạm ước ngày 14-9-1945 để thủ hòa vì biết không thể giải quyết được.

Huỳnh Văn Tiểng

Nguyên giám đốc Đài phát thanh Nam Bộ

Theo “Hà Nội - Mùa thu cách mạng”, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội,

Nxb. Hà Nội. 2000

Nguồn: http://www.thanglonghanoi.gov.vn/channel/21/2010/08/6879/#ibHUQGvcIA5m



Thứ Hai, 26 tháng 10, 2009

Xã hội VN sau 1975 qua hồi ký học giả Nguyễn Hiến Lê

Học giả Nguyễn Hiến Lê, một tấm gương nỗ lực tự học đáng kính, người để lại gia tài kiến thức đồ sộ cho nền nghiên cứu Việt Nam. Tôi được biết đến Nguyễn Hiến Lê lần đầu qua cuốn hồi ký của ông mượn trong thư viện. Tuy chỉ đọc một lần và chưa đọc trọn vẹn cuốn hồi ký nhưng trong thâm tâm tôi lúc nào cũng ngượng mộ học giả đáng kính này.

Trong số những cuốn sách của Nguyễn Hiến Lê mà tôi đã mua, cuốn sách tôi yêu thích nhất là "Dạy con theo lối mới", tuy được viết cách đây hơn 50 năm nhưng khi đọc tôi thấy rất gần gũi và thời sự... lại còn tân tiến hơn cả quan niệm giáo dục lỗi thời của xã hội Việt Nam hiện nay. Nếu như tư tưởng của cuốn sách được áp dụng rộng rãi thì trẻ em Việt Nam sẽ phát triển tốt biết bao.

Tình cờ xem trên blog GS BS Nguyễn Văn Tuấn đọc được tài liệu mà trong cuốn hồi ký Nguyễn Hiến Lê ở VN đã lượt bớt như một minh chứng cho những ngày tháng lịch sử. Sự thật hay không? thời gian sẽ trả lời

Link nguồn:
http://www.giaodiemonline.com/noidung_detail.php?newsid=2522
http://tuanvannguyen.blogspot.com/2008/07/hc-gi-nguyn-hin-l.html

Nguyễn Hiến Lê (1912-1984) sinh tại Hà Nội, nguyên quán ở Quảng Oai, Sơn Tây (Hà Tây). Sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Công chánh (1934), được điều vào Nam Bộ công tác. ở đây ông đã viết văn và nghiên cứu văn hoá. Là tác giả và dịch giả của 122 tác phẩm, 250 bài báo và 23 đề tựu cho công trình các bạn bè, Nguyễn Hiến Lê là một tấm gương lao động miệt mài và có khoa học trong lĩnh vực truyền bá văn hoá.

.........

Thân phụ Nguyễn Hiến Lê là con út, tên Bí, hiệu Đặc Như, có chút tính nghệ sĩ, ham chơi, học kém hơn các anh, dạy con rất nghiêm khắc. Nguyễn Hiến Lê là trưởng nam, sau ông còn một em trai, hai em gái. Trước ngày Nguyễn Hiến Lê chào đời, ông Đặc Như nằm mộng, thấy cụ già râu tóc bạc phơ, chống gậy đến trao cho quả lê, vì thế đặt tên con là Hiến Lê (hiến tặng quả lê). Mẹ Nguyễn Hiến Lê tên Sâm, sớm mồ côi cha, mẹ bà làm lược nuôi con. Bà Sâm không biết chữ, rất đảm đang, biết dạy con. Bà và người anh chồng (ông Phương Khê) đã sớm ảnh hưởng rất nhiều đối với sự nghiệp của Nguyễn Hiến Lê sau này.
............
Đời ông bảy mươi ba năm, từ ấu thơ cho đến khi quay lưng đi vào cõi vĩnh hằng, đã kinh qua biết bao nỗi thăng trầm bi tráng của lịch sử một đất nước chiến tranh ly loạn triền miên. Nhưng ông đã tự chọn cho mình một con đường tu thân, tu đức, trau giồi học vấn không ngừng. Ông miệt mài đem trí tuệ mẫn tiệp, sức học uyên bác, lương tri và tâm huyết... để bằng nghị lực phi thường lướt qua những bệnh tật đeo đẳng tấm thân mảnh khảnh, và đã lặng lẽ nuốt nỗi khổ riêng vào tận đáy lòng, để cho những dòng chữ lời văn của ông mãi mãi chỉ tinh tuyền là hương thơm vị ngọt và vẻ mỹ miều của một tình yêu quê hương đằm thắm và một lòng nhân ái kín đáo
...............

Xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sau năm 1975 qua cuốn Hồi kí của học giả Nguyễn Hiến Lê

Lời nhà xuất bản trong mấy trang đầu của cuốn Hồi kí Nguyễn Hiến Lê do Nhà xuất bản Văn học, Thành phố Hồ Chí Minh tái bản lần thứ sáu, năm 2006, có viết như sau:

“Ngòi bút của Nguyễn Hiến Lê, tâm hồn và con tim Nguyễn Hiến Lê ngay từ đầu đã thuộc về nhân dân, những người lao động, những ai cực khổ, bần hàn và bất hạnh. Niềm tự hào về dòng giống, tổ tiên và nỗi đau về dân tộc trước những cuộc ngoại xâm đã kéo Nguyễn Hiến Lê, một nhà văn luôn ý thức lánh xa những gì phù phiếm như chức tước, địa vị và sự giàu sang không lương thiện xích gần với Cách mạng và tự coi mình là người của Cách mạng, bởi lẽ dễ hiểu, những điều Cách mạng đang làm cũng chính là mơ ước của ông.”

“Trên tinh thần tôn trọng một học giả nghiêm túc và được nhiều người mến mộ, kính nể ấy, Nhà xuất bản Văn học trân trọng giới thiệu cuốn hồi kí của ông. Tuy là hồi kí một người, một nhà văn, nhưng qua đấy người đọc cảm nhận được xã hội Việt Nam xuyên suốt hai cuộc kháng chiến chống xâm lược mà nét hào hùng lẫn những vệt máu và nước mắt vẫn còn thấm đẫm mới rọi trên từng trang sử của dân tộc chúng ta. Từng sự kiện, từng con người (từ nhà chính khách cho đến nhà văn…) đều được cách nhìn Nguyễn Hiến Lê soi rọi và đánh giá.”

“Vì tác giả đã mất, Nhà xuất bản không thể cắt bỏ nhiều quá. Trong quá trình biên tập, chúng tôi chỉ lược bớt phần rườm rà và cắt những chỗ không thể nào để lại được. Chúng tôi mong bạn đọc thông cảm.”

Những đoạn bị “lược bớt” là (viết nghiêng):

Cảm tình của tôi với kháng chiến

Tôi vốn có cảm tình với Việt Minh, với cộng sản; ghét thực dân Pháp, Mĩ, nhất là từ 1965 khi Mĩ đổ quân ào ạt vào miền Nam; tôi khinh những chính phủ bù nhìn của Pháp, Mĩ. Tôi phục tinh thần hi sinh, có kỉ luật của anh em kháng chiến và mỗi lần có thể giúp họ được gì thì tôi sẵn lòng giúp.

Chế độ mới

Ai cũng biết chế độ cộng sản là chế độ độc đảng, chuyên chế của giai cấp vô sản… Họ nắm hết cả ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, nếu trong nước có đảng dân chủ, đảng xã hội thì những đảng này cũng phải theo đường lối của đảng cộng sản, không thể độc lập, đối lập được… Bất kể việc lớn nhỏ gì cũng do đảng quyết định hết, cơ quan nào dù lớn, quan trọng tới mấy cũng chỉ có việc thừa hành.

Dưới đây tôi ghi vắn tắt những điều tôi thấy về chế độ cộng sản ở miền Nam. Tôi không chép nhật kí, mà kí tính tôi mấy năm nay suy; tôi lại chỉ sống ở Sài Gòn, giao du ít, nên nhận xét của tôi chắc chắn là thiếu sót, có thể sai nữa, sai nhiếu nhất là năm, tháng. Tôi sẽ ráng giữ tinh thần khách quan và trung thực.

Hành chánh

Tổ chức

Một gia đình (cha mẹ, con cái, anh em, bà con…) ăn chung, ở chung với nhau thì thành một hộ… Ba bốn chục nhà (thường gồm bốn năm chục hộ) họp lại thành một tổ… Tổ trưởng là gạch nối giữa chính quyền và nhân dân, loan báo chỉ thị của chính quyền xuống nhân dân, đạo đạt nguyện vọng của nhân dân lên chíng quyền… Tổ trưởng thường ít học nên hay nói, nói dai, đáng lẽ 15 phút xong thì kéo dài cả giờ, giờ rưỡi, mất thì giờ của dân…

Và hãy đọc một chuyện vui về “cán bộ ba d.” của ông:

Thỉnh thoảng lại có buổi học tập chính trị do cán bộ, thường là công an tới giảng cho 5-6 tổ gồm trên trăm học viên… Trình độ văn hoá của cán bộ chỉ vào hạng có tiểu học, bài học rất chán, mà cũng có một số người vỗ tay khen, có khi chưa hết câu đã vỗ tay, khiến cho các học viên miễn cưỡng vỗ tay theo. Trò đó có vẻ lố bịch, sau dân chúng phá bằng cách đáng lẽ chỉ vỗ tay một thì họ vỗ tay hai, kéo dài ra, bọn nịnh kia thấy ngượng phải bỏ… Tôi nhớ lời này của một bạn ở Hà Nội vào: “Bọn cán bộ đó nói dài, nói dai, nói dở, gọi là cán bộ ba d.”

Nhiều tổ họp thành một khóm… Phường có công sở lớn, nhiều phòng: hành chánh, y tế, giáo dục, kinh tế, công an… dân trong phường bầu đại diện, đại diện lại bầu một hội đồng nhân dân, chủ tịch hội đồng này là phường trưởng. Cách thức bầu cũng như bầu quốc hội. Đảng lập danh sách những người Đảng cho phép ứng cử… và dân chỉ được bầu cho những người đó. Chỉ là vấn đề hình thức. Dân đi bầu khắp mặt cho xong việc, không cần biết kết quả ra sao. Ứng cử viên chẳng cần ra mắt quốc dân. Riêng tôi suốt 5 năm không thấy mặt ông chủ tịch uỷ ban nhân dân phường một lần nào, hai lần xin gặp mặt thì cô thư kí bảo ông ấy đi vắng cả hai… Trên phường là quận… Trên quận là thành phố… do nhân dân trong tỉnh bầu lên theo cách thức đã kể trên.

Sở nào cũng rất nhiều nhân viên mà công việc thì ít, vì giám đốc sở nào cũng đưa người thân hay người quen vào làm. Người ta gởi gắm lẫn nhau. Một cán bộ cao cấp chủ nhiệm hay phó chủ nhiệm một tờ báo nọ có lần bảo tôi, tờ báo của ông ta có non 100 nhân viên (trước ngày 30-4-75 một tờ báo như vậy chỉ có vài chục nhân viên mà lại nhiều trang, nhiều bài hơn), dư người rồi; vậy mà sáu tháng sau khi ông ta giao lại toà soạn cho một cán bộ khác, thì số nhân viên đã tăng lên tới 170; có những “kí giả” tới toà soạn mà chẳng có việc gì làm, nói chuyện láo một lúc, sửa một cột ấn cảo rồi đi dạo phố hoặc về nhà, tự thẹn mang tiếng kí giả mà cả năm không hề viết một hàng chữ cho tờ báo.

Nhân viên càng nhiều, công việc lại càng bê bối. Vì cái nạn bè phái tranh giành nhau, dẫm chân lên nhau, không ai chịu trách nhiệm cả, ai cũng đùn công việc cho người khác.

Tinh thần nhân viên

Đa số công sở rất dơ dáy, lộn xộn, nhân viên nấu ăn ngay trong phòng giấy. Vào nhiều công sở ta có cảm tưởng vào những nhà việc ở thôn quê Nam Việt nửa thế kỉ trước: có 3-4 bàn giấy nhưng chỉ có hai nhân viên ngồi nói chuyện phiếm bên một bình trà, mấy cái chén, chỉ khác là có thêm một bình điếu thuốc lào. Nhân viên tới giờ nào thì tới.

Đói thì không làm việc được, công việc bê trễ, người ta chán nản, xin thôi… Xin thôi không được thì người ta cứ ngang nhiên bỏ sở; hoặc ở lại thì làm tà tà, lấy lệ… Có kẻ ỳ ra không làm gì cả.

Hình như người ta không có một kế hoạch, chương trình gì cả, ra lệnh rồi phản lệnh liền liền mà tới giờ chót mới thông báo cho nhân viên hay; máy móc mua về đủ rồi mà vì lẽ này lẽ khác, không dùng tới, để cho nó sét. Rồi còn cái tệ dưới không tuân lệnh trên, một phần do tinh thần bè phái, một phần do chính sách địa phương tự trị… Đó là cái nạn cán nặng hơn gáo.

Tôi không kể những cái bê bối trong công sở: đánh mất hồ sơ, thụt két, ăn cắp của công, kho vật liệu không có sổ sách, cứ ít tháng lại thấy mất đồ mà không tìm ra được thủ phạm, v.v…, vì nếu kể thì dài quá.

Tỉnh huyện lập ra nhiều cơ quan quá thì phải xây cất thêm nhiều, tịch thu nhà cửa đất đai của dân. Theo hiến pháp, tư sản được tôn trọng. Chỉ bọn tư bản bóc lột, một số nguỵ quân nguỵ quyền có tội nặng và những người vượt biên “chui” (lén) mới bị tịch thu nhà cửa. Nhưng một số cán bộ nhỏ muốn dâng công hoặc vì tư thù, tư lợi, tịch thu bừa bãi nhà cửa, đồ đạc của dân… Còn các gia đình có mặc cảm tội lỗi thì đành chịu ức hiếp: đương đêm quân đội tới bắt dọn đồ đạc ra đường để chúng chiếm nhà. Tệ đó gây bao phẫn uất trong dân chúng, các ông lớn ở trung ương có biết cho không?


Cán bộ cao cấp và trung cấp còn biết những sở đoản của chế độ, lẽ nào các nhà lãnh đạo và đảng không biết. Tôi cho rằng người ta biết đấy, nhưng đó là bệnh cố hữu (inhérent) của chế độ, không thể chữa được, trừ phi có một cuộc thay đổi lớn lao mà không ai dám nghĩ tới.

Ngân hàng - Hưu bổng - Đổi tiền

Công việc đầu tiên của chính quyền 30-4-75 là chiếm hết các ngân hàng, các sở ngân khố. Không còn ngân hàng của tư nhân mà cũng không còn sở ngân khố…

Ai gửi tiền ở ngân hàng quốc gia mà mua công khố phiếu (tức quốc trái, được lời nhiều hơn là gửi ngân hàng tư: 30% mỗi năm, chứ không phải là 24%) thì chính phủ không trả cho đồng nào hết, vì đó là nợ của chính phủ Nguyễn Văn Thiệu, mà Thiệu đã lưu vong, ôm hết quí kim đi rồi. Nhiều người ở trong trường hợp đó.

Nhà tôi buồn vì chính quyền không cho lãnh tiền hưu bổng (khoảng 30 đồng mới, 15.000 đồng cũ một tháng) mà không cho hay ngay, cứ làm thinh, bắt mỗi tháng lại sở hưu bổng hỏi han, chầu chực, như vậy hai năm, tới khi thấy người ta hạ cái bảng tên sở đi mới tuyệt vọng, không trông vào số tiền dưỡng lão đó nữa.

Còn hoàn cảnh của những nạn nhân khác thì sao?

Biết bao người ở trong trường hợp đó, nhiều người nghèo không trông cậy vào đâu được, phải tự tử. Có người đã mất hết số tiền và tư trang gởi ngân hàng, rồi lại mất luôn tiền hưu trí, hoá điên.

Chính sách đổi tiền của chính phủ càng thất nhân tâm hơn nữa. Vụ đổi tiền thứ nhất xẩy ra tháng chín hay tháng mười 1975, và xẩy ra rất đột ngột. Sáng sớm hôm đó dân chúng mới hay rằng phải đổi tiền nội trong 24 giờ và mỗi người dân già trẻ lớn bé được đổi một số tiền là bao nhiêu đó tôi quên rồi, chỉ còn nhớ số tiền này như gia đình tôi chỉ đủ tiêu trong một tháng hay tháng rưỡi là cùng… rất nhiều người phẫn uất, tuyệt vọng; có người tự tử, có người đốt hằng thúng giấy bạc, hoặc từ trên lầu vãi giấy bạc xuống đường, không ai thèm lượm; ở Mỹ Tho, nhiều tiệm Trung Hoa thồn giấy bạc vào cà roòng, thả trôi sông.

Ba năm sau, năm 1978 lại đổi tiền một lần nữa, mà lần này ở khắp nước. Cũng đột ngột, cũng hạn chế số tiền được đổi, nhưng có tổ chức hơn, đỡ khổ cho dân… Vụ đổi tiền năm 1978 làm Bắc Việt xôn xao cũng bằng ở trong Nam, và cũng có đủ các tệ như ở Nam… Lần này người ta biết tin trước vài ngày: ai có nhiều tiền (ở Bắc cũng như ở Nam) cũng tung tiền ra mua vàng, xe đạp, vải, tủ lạnh, chén đĩa, bất kì thứ gì với bất cứ giá nào… Có người không biết mua gì, năn nỉ hàng xóm để lại cho con gà, con vịt. Người nghèo có từ nải chuối trở đi cũng đem đi bán. Ở Bắc có kẻ nhiều tiền quá thồn cả vào một cái bao, chở trên xe đạp, đến một chỗ vắng, làm bộ đánh rớt xuống đường rồi phóng đi như bay. Hạn chế, kiểm soát rất gắt, vậy mà ở Hà Nội ngay tối đêm mới đổi tiền, công an lại xét một nhà thấy một số tiền gấp trăm số gia đình đó được phép đổi. Và chính phủ cũng phải làm ngơ.

Sau một phần tư thế kỉ được giáo hoá mà như vậy thì chúng ta phải kết luận ra sao? Có chế độ nào thay đổi được bản tính con người trong một hai thế kỉ không? Bao giờ mới đào tạo được con người xã hội chủ nghĩa để họ xây dựng xã hội chủ nghĩa đây, như Hồ Chủ tịch nói?

Nông nghiệp

Về nông nghiệp, hai nước cộng sản đàn anh Nga và Trung Hoa đều thất bại. Sau 60 năm làm cách mạng, Nga vẫn thiếu lúa mì, phải mua của Mĩ, mà đất đai Nga Xô rất rộng chứ; Trung Hoa thì sau 30 năm, dân vẫn thiếu gạo, thiếu thịt.

Ông thầy của chúng ta đã thất bại thì ta làm sao không thất bại được?... Hỏi thăm các bạn ở Bắc, ai cũng bảo hợp tác xã nông nghiệp ngoài đó, xét chung, thất bại, chỉ trừ một vài nơi ở Thái Bình… Trong nhiều hợp tác xã còn đất bỏ hoang, vì khó khai phá, không có lợi… Ở trong Nam mấy năm đầu dân phải đóng thuế nặng, lúa bị thu mua nhiều quá với giá rẻ mạt, phân bón, thuốc trừ sâu, xăng nhớt lại bị cán bộ ăn cắp bán chợ đen v.v… Do đó nông dân chán ngán, không ham sản xuất.

Chúng ta đừng nên quá tự tín, tự hào, mà nên so sánh nước mình với các nước láng giềng cũng nông nghiệp như mình, đất rộng cũng như mình, tức Thái Lan, Miến Điện… Quá tin ở sự khai phá đất hoang lại càng không nên.

Tóm lại tôi nghĩ rằng hoà bình trở lại, lo sản xuất lúa gạo để đủ nuôi dân đã là may, không mong gì làm giàu được. Năm 1975 tôi trình bày lại ý đó với một cán bộ cách mạng, họ cho tôi là bi quan, bảo: “Dân tộc mình thắng được Mĩ, hùng cường thứ nhì Đông Á, chỉ 5 năm nữa thì kinh tế mình sẽ thịnh, hai chục năm nữa sẽ đuổi kịp Nhật rồi vượt họ.”… Có những người dễ tin bánh vẽ quá. Họ thật sung sướng, tối chắc ngủ ngon.

Một nguyên nhân thất bại nữa của chính sách nông nghiệp là thiếu kĩ thuật gia giỏi… từ ngày 30-4-75, các công tác thuỷ lợi hầu hết do các cán bộ nông thôn mới học hết cấp I (hết tiểu học) điều khiển. Các đồng chí ấy bất chấp kinh nghiệm của nông dân, đã dốt mà lại độc đoán… Cán bộ của mình không được học, không biết tính toán gì cả (một cán bộ tài chánh xã mà không biết chia 72 cho 24), mạnh làng nào làng ấy đào, chẳng hề xét hậu quả gì bất lợi cho làng bên hay không; và kết quả nhiều khi trái ngược với ý muốn… Người ta đào kinh rất nhiều, miền nào cũng khoe đào được mấy chục con kinh, mấy trăm cây số kinh trong một mùa nắng. Có tốn kém gì đâu. Chỉ cần bắt thanh niên làm xâu, làm càng nhiều càng được tiếng “vinh quang”. Tới nỗi có miền dân phải ta thán, đặt ra câu ca dao này:

Mồ cha thằng Thiệu dời dinh,
Để tao ở lại đào kinh suốt đời.

Tập cho thanh niên lao động chân tay, góp sức vào việc kiến thiết quê hương là điều tốt, nhưng người ta phí sức dân quá. Dân do đó thấy tủi cho thân phận mình: trong thời chống Pháp, chống Mĩ, dân hi sinh cho anh em kháng chiến, bây giờ bị coi như nô lệ.

Phân phối

Xuất cảng chỉ còn than đá, xi măng, cao su – hơn hay kém trước tôi không biết - những hàng lặt vặt như bia, đồ hộp, tranh sơn mài, tôm… thì không đáng kể, mà mỗi năm một suy như đã nói ở trên. Nhập cảng cũng rất ít vì thiếu ngoại tệ, cho nên thứ gì cần lắm như xăng, nhớt, bột mì, máy móc mới bất đắc dĩ phải nhập khẩu; ngay đến dược phẩm cũng đành chịu thiếu thốn.

Đánh tư bản

Hồi 30-4-75, ai cũng biết tư bản sẽ bị đập, thương mãi bị dẹp. Cho nên khi chính quyền ra lệnh các nhà buôn, nhà kinh doanh có môn bài, cửa tiệm phải đăng kí (kê khai), còn những thứ hàng nào, mỗi thứ bao nhiêu, giá bao nhiêu… (các người cho thuê nhà cũng phải khai) thì những người thức thời làm bản kê khai rồi tặng chính phủ. Trái lại, một nhà xuất bản và nhà sách khác lớn hơn nhiều, tin rằng mình làm ăn đứng đắn, quen nhiều nhà văn cách mạng, sẽ được yên, nên chỉ tặng chính phủ một phần nhỏ tài sản thôi và rốt cuộc mất gần hết nhẵn mà lại phải đi cải tạo mấy năm…

Chiến dịch kiểm kê đầu tiên để đập tư bản xẩy ra cuối năm 1976. Chính phủ đã chuẩn bị kĩ lưỡng, dùng rất nhiều sinh viên, thanh niên, nhốt họ trong trường hay trong cơ quan, không cho về nhà, không cho tiếp xúc với người ngoài, dạy cho họ trong một tuần (?) cách thức kiểm kê ra sao, phát giác những chỗ giấu đồ ra sao - nhất là vàng, kim cương - của bọn tư bản. Thành phố xôn xao dữ dội… Sau vụ đó, một số người bỗng hoá ra giàu. Hậu quả là tài sản của giới này chuyển qua giới khác một phần lớn, chính phủ được hưởng một phần nhỏ.

Phân phối nhu yếu phẩm

Năm 1975, trong nước còn nhiều sản phẩm nên mỗi tháng mỗi người dân ở thành phố được mua đủ gạo ăn, một hay nửa kí đường, một ít thịt cá, xà bông, dầu lửa…

Năm 1979, sản phẩm trong nước cạn dần, chính phủ phân phối cho dân được rất ít: gạo, bo bo, mì sợi may ra còn được đủ, còn những thứ khác thì năm thì mười hoạ mới được một chút ít… nhưng hạng cán bộ cao cấp có tiêu chuẩn riêng, có “bìa”, thì được phân phối quá đầy đủ…

Đó là chính sách chung của các nước trong phe chủ nghĩa xã hội… Việt Nam y hệt Nga và còn thua Trung Hoa một bực. Ở Trung Hoa, Mao chia giới cán bộ thành 30 cấp (thời Chiến quốc, Trung Hoa chỉ có 10 cấp thôi, theo sách tả truyện), mỗi cấp có tiêu chuẩn, đặc quyền riêng...

Giáo dục – văn hoá

Giáo dục

Chính quyền rất coi trọng giáo dục, mở rất nhiều nhà trẻ, trường học từ mẫu giáo tới đại học. Giáo dục mới đầu hoàn toàn miễn phí, do đó có vẻ rất bình đẳng. Ở đại học, sinh viên nào cũng được trợ cấp mỗi tháng 18 đồng, tuy không đủ, nhưng cũng đỡ cho cha mẹ. Dĩ nhiên phải như vậy, nếu không thì không ai cho con học đại học được. Các đồng bào thiểu số cũng được dạy dỗ như người Kinh, đó cũng là điểm đáng khen nữa.

… sách giáo khoa mà sai – và vẫn thường sai - chẳng hạn bảo Sài Gòn nằm trên bờ sông Cửu Long thì tất cả các giáo viên cũng phải dạy sai như vậy, không được phép sửa; rồi báo cáo lên ti, ti lên bộ. Chỉ có bộ mới có quyền sửa sai, và phải hai ba năm sau, in sách mới, người ta mới sửa. Tôi thấy kì cục quá, không tin nổi, năm sau hỏi một giáo sư đại học Hà Nội, ông xác nhận là đúng: cái gì Bộ Giáo dục in thì phải coi là pháp điển, phải tuân theo triệt để.

Tôi hiểu chính sách của người ta rồi: luyện tinh thần kỉ luật, làm tiêu ma óc phán đoán, ý chí cá nhân; và tôi không trách một đứa cháu tôi ở Hà Nội, một cán bộ cao cấp, vào hạng trí thức, năm nay trên 60 tuổi, có tú tài Pháp hồi thế chiến thứ nhì mà không có một chút tinh thần phê phán nào hết, trên nói sao thì tin vậy, đúng như người Pháp nói; có thể “avaler touts sorts de couleuvres”.

Muốn vô đại học thì sức học không quan trọng bằng lí lịch… Ra trường chắc chắn được bổ dụng… Thủ trưởng bắt làm gì cũng phải làm: cán sự điện tử mà làm lao công, dược sĩ mà giữ kho… Vì tất cả những lẽ trên, ở Nam thanh niên chán học, số học sinh lớp 12 kém xa năm 1974…

Một điểm tấn bộ là chính quyền mở nhiều lớp bổ túc văn hoá cho công nhân viên, cán bộ… Có đủ các cấp I, II, III. Vài cán bộ y sĩ, dược sĩ bốn năm chục tuổi, thời kháng chiến không được học, nay học bổ túc từ lớp tư, lớp năm… Học xong mỗi khoá phải thi. Nhưng thi rất dễ. Nghe nói có thầy đọc câu trả lời cho thí sinh chép, vì bắt những cán bộ mấy chục tuổi đảng thi lại hoài thì cũng kì, mà lại bị cấp trên trách là không biết dạy. Tiện hơn hết là cho đậu bừa đi. Ai cũng biết đó chỉ là hình thức. Có dược sĩ trình độ mới tới lớp tư, học rút trong hai năm hết lớp 10, như vậy đủ rồi. Một nhân viên công an cấp cho tôi giấy phép đi đường một tháng mà đề từ 31-1 đến 31-2-1980.

Văn hoá

Một trong công việc đầu tiên của chính quyền là huỷ tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của Bộ Văn hoá nguỵ, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Đôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt.

Năm 1975, Sở Thông tin Văn hoá TP Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt… ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi truỵ trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kì loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba huỷ”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải huỷ hết, vì nếu không phải là loại phản động (một huỷ), thì cũng là đồi truỵ (hai huỷ), không phải phản động, đồi truỵ thì cũng là lạc hậu (ba huỷ), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lí…

… năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc huỷ sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh huỷ hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kĩ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lí, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của ông cha mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải huỷ ráo.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại Sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Huỷ hết, huỷ hết.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được…

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Và đây là trí thức của tầng lớp cán bộ văn hoá chỉ huy:

Một nhà văn hợp tác với Viện Khoa học Xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không làm nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ văn hoá vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, loá mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

Y tế

Dân trong ấp, xã bị bệnh thì lại họ (nhân viên y tế nông thôn) trước, họ không trị được thì đưa ngay lên quận; quận có bác sĩ đa khoa, trị không được thì đưa ra tỉnh; tỉnh có bác sĩ chuyên khoa, đủ dụng cụ, đủ thuốc… Lần lần nhân viên y tế nông thôn vừa làm việc vừa học thêm, có thể lãnh trách nhiệm quan trọng hơn, đưa lên giúp việc ở quận. Chính sách đó rất họp lí và chính quyền mình cũng đã áp dụng nó. Đó là một điểm tấn bộ.

Trình độ nhân viên y tế:

Nhưng vì chiến tranh, nhân viên y tế các cấp của mình da số ít được học, nên chúng ta thấy những y sĩ (y sĩ Bắc có quyền ra toa, nhưng kém bác sĩ một bực), học chỉ tới lớp năm (hết cấp I), chỉ biết dăm chục tên thuốc, không biết đo huyết áp, không biết thế nào là đau mắt hột… chỉ đáng làm một nhân viên y tế nông thôn thôi. Còn bác sĩ được đào tạo ở Bắc thì xét chung, sự hiểu biết cũng kém xa bác sĩ đào tạo ở Nam… Nhân viên y tế nông thôn cũng thiếu, tinh thần trách nhiệm rất thấp: một huyện nọ người ta tiêm thuốc ngừa dịch tả cho ba người lớn và chín trẻ em thì tám trẻ chết.

Tệ nhất là nạn thiếu thuốc, thiếu cả thuốc đỏ, thuốc tím, do đó sinh ra nạn ăn cắp thuốc, ra toa cho người không có bệnh để họ bán thuốc chợ đen.

Cũng may mà có hằng trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gửi thuốc về giúp thân nhân, nếu không sức khoẻ của dân sa sút không biết tới đâu.

Tệ nhất là nạn thiếu vệ sinh… từ cơ quan tới đường sá, tư gia, đâu đâu cũng dơ dáy… Nhiều cơ quan nuôi gà, heo ngay trong phòng của họ, và từ trên lầu thượng họ trút nươc dơ xuống đường. Phòng bệnh nhân trong các bệnh viện hôi hám không chịu nổi; phải bịt mũi khi đi tới gần cầu tiêu… người ta phóng uế đầy đường.

Gần cuối kế hoạch năm năm đầu tiên (1976-1980), người ta làm một “chiến dịch” vệ sinh để “dứt điểm” và người ta lựa ngay khu sạch sẽ nhất trong thị xã làm “thí điểm”, phái một nhóm người đi xịt thuốc DDT cho từng nhà; thuốc đã pha loãng nhiều rồi mà lại chỉ xịt vài phòng tối, vài bụi cây thôi. Không cần xem xét chỗ chứa rác, cầu tiêu. Thế là xong chiến dịch, có thể báo cáo lên trung ương là đã dứt điểm.

Chính sách, đường lối tuy đúng mà thiếu người, thiếu phương tiện, thiếu tinh thần thì cũng hoá dở.

Tư pháp

Từ năm 1975, trường luật bị bãi bỏ. Sinh viên luật có thể xin chuyển qua ngành kinh tế, ra làm các ngân hàng. Nhưng đa số bỏ học, làm phu khuân vác, đạp xích lô… Đó là chuyện 1975. Nay thì thanh niên trí thức làm đủ các việc lao động rồi, bổ củi mướn, chở cát, vác gạo…, không ai ngạc nhiên, mà cũng không ai thương hại cho họ nữa, họ dễ dàng kiếm được vài ba chục đồng một ngày mà lại tự do, chứ không làm thư kí ngân hàng 40 đồng một tháng thì sống sao nổi. Vả lại lao động là vinh quang mà. Nữ sinh viên thì bán thuốc lá rời hoặc quần áo cũ ở lề đường.

Trong Nam trước năm 1975 chưa có bộ luật mới, tạm dùng bộ luật cũ. Còn ở Bắc bỏ luật cũ mà không có luật mới (nghe nói năm 1981 người ta mới tính thảo bộ luật mới), không có trường luật thì tôi không hiểu người ta dạy xử án ra sao.

Năm 1975 có lần tổ chúng tôi họp để xử một người trong tổ mắc một tội nào đó tôi không nhớ. Ông tổ trưởng đề nghị hai cách trừng trị… Cách nào được nhiều người đồng ý thì theo cách đó… Khi phường có toà án nhân dân rồi (năm 1978?) thì để toà xử. Một “ông toà” là học trò cũ của một bạn tôi. Tôi hỏi cậu ta: “Cháu xử theo luật nào?” Cậu ta cười, đáp: Cháu đặt ra luật để xử - Thực vậy sao? - Dạ, bây giờ ai đặt luật cũng được. Vì có bộ luật nào đâu?

Tuy nhiên:

Cũng có luật sư do chính quyền chỉ định để bênh vực cho bị cáo… Chính phủ bênh vực giai cấp vô sản; hạng bần dân dù bị tội nặng cũng xử nhẹ - trừ tội phản động dĩ nhiên.

Và:

Hiến pháp vẫn trọng quyền tư hữu nhỏ, nhưng đảng còn trọng lập trường giai cấp hơn. Giai cấp được trọng nhất là giai cấp đảng viên, như giai cấp quí tộc đời Chu ba ngàn năm trước… Giai cấp yên thân nhất là giai cấp vô gia cư, vô nghề nghiệp.

Xã hội sa đoạ

Ở tỉnh nào cũng có một số cán bộ tham nhũng, cấu kết với nhau thành một tổ chức ăn đút ăn lót một cách trắng trợn, không cần phải lén lút. Có giá biểu đàng hoàng…

Nếu một cán bộ nào bị dân tố cáo nhiều quá thì người ta cũng điều tra, đưa cán bộ đó tới một cơ quan khác (có khi còn dễ kiếm ăn hơn cơ quan cũ), đem người khác (cũng tham nhũng nữa) lại thay. Ít tháng sau dân chúng nguôi ngoai rồi, người ta lại đưa kẻ có tội về chỗ cũ. Người ta bên vực nhau (cũng là đảng viên cả mà) vì ăn chịu với nhau rồi. Dân thấy vậy, chán, không phí sức tố cáo nữa. Có người còn bảo: “Chống chúng làm gì? Nên khuyến khích chúng sa đoạ thêm chứ để chúng mau sụp đổ…”

Lớn ăn cắp lớn, nhỏ ăn cắp nhỏ. Ăn cắp nhỏ thì chỉ bị đuổi chớ không bị tội, vì “họ nghèo nên phải ăn cắp”, mà nhốt khám họ thì chỉ tốn gạo nuôi… Ăn cắp lớn, không thể ỉm được thì phải điều tra, bắt giam ít lâu, rồi nhân một lễ lớn nào đó, ân xá; không xin ân xá cho họ được thì đồng đảng tổ chức cho vượt ngục rồi cùng với gia đình vượt biên yên ổn.

Và vô số những tệ nạn khác:

Nạn “phe phẩy” (buôn lậu, làm chợ đen) còn bành trướng hơn nữa… Người ta nói đã có những vụ buôn lậu thuốc phiện; nếu cò thì cũng nhỏ thôi, kém xa thời Mĩ, Thiệu. Nhưng đồ lậu như vải, thuốc thơm, thuốc tây… thì khoảng một năm nay lan tràn thị trường…

Có đồ lậu thì luôn luôn có đồ giả… nhiều nhất là dược phẩm Tây phương, vì thứ này vừa hiếm vừa đắt… Chỉ khổ dân quê…

Nạn cờ bạc không công khai như trước, nhưng nạn “xổ số đuôi” thì công khai rồi…

Nạn cho vay nặng lãi cũng kinh khủng… Bạn hàng ở chợ không chơi hụi tháng như xưa nữa, mà chơi hụi tuần, hụi ngày!

Nạn đĩ điếm đã hết đâu. Ngay cuối năm 1975, một cán bộ cách mạng đã bảo các bạn kháng chiến ở bưng về mắc bệnh hoa liễu hết rồi; một số cán bộ rất nghiêm trang đạo mạo – có kẻ ngoài 70 tuổi - từ Hà Nội vào, năn nỉ các bạn trong Nam chỉ chỗ cho họ hưởng thú mê li một lần cho biết mùi… Họ rất thích sách khiêu dâm…

Con người mất nhân phẩm

Trong một xã hội như vậy, con người dễ mất hết nhân phẩm, hoá ra đê tiện, tham lam, bất lương, nói láo, không còn tình người gì cả.

Năm 1975 đa số các cán bộ, công nhân viên ở Bắc vào thăm gia đình, họ hàng ở trong Nam, còn giữ chút thể diện “cách mạng”, bà con trong này tặng họ gì thì họ nhận, chứ không đòi; về sau họ không giữ kẽ nữa, tặng họ một thì họ xin hai, không tặng họ cũng đòi, khiến một ông bạn tôi bực mình, nhất định đóng cửa không tiếp một người bà con, bạn bè nào ở Bắc vào nữa…

Đa số cán bộ ở Nam đã tư bản hoá rồi, một xã hội chủ nghĩa xã hội mà như vậy thì chủ nghĩa đó chỉ còn cái tên thôi.

Một nhà văn đất Bắc làm cho một tờ báo nọ nhờ một nhà văn trong Nam viết bài, hứa sẽ trả bao nhiêu đó. Viết rồi, đưa họ, họ đăng, nhưng kí tên của họ rồi đưa cho nhà văn trong Nam nửa số tiền nhuận bút thôi, còn họ giữ lại một nửa. Vừa ăn cắp văn, vừa ăn chặn tiền. Chưa bao giờ miền Nam có bọn cầm bút bẩn thỉu như vậy. Một bạn học giả của tôi ở Bắc khuyên tôi đừng giao bản thảo của tôi cho ai hết, không tin ai được cả, họ sẽ đạo văn.

Cái mất tình người:

Sống dưới chế độ cộng sản, con người hoá ra có hai mặt như Sakharov đã nói: chỉ giữa người thân mới để lộ mặt thật, còn thì phải đeo mặt nạ; luôn luôn phải đề phòng bạn bè, láng giềng, có khi cả người trong nhà nữa. Người ta tính cứ 5 người thì có 1 người kiểm soát từng ngôn ngữ, hành vi của 4 người kia… Ở Nga thời Staline như vậy, ở Bắc những năm 1954-1960 cũng gần như vậy; ở Nam đỡ hơn vì đa số người trong này không chịu làm thứ mật thám chìm đó…

Nạn làm tiền, tống tiền lan tràn khắp các ngành, cả trong ngành cứu nhân độ thế và ngành tống táng.

Tất cả chỉ tại cái lệ chính phủ định giá, định lương rẻ quá không cho dân đủ sống, dân phải xoay xở lấy, bóc lột lẫn nhau. Cổ kim chưa một xã hội nào phi lí như vậy. Vì biết mình phi lí nên có nơi chính quyền làm ngơ cho bác sĩ làm ăn, cho phép các giáo viên nguỵ dạy thêm tại nhà.

Nói cho ngay, thời nào trong xã hội cũng có một số người lương thiện. Và ông Phạm Văn Đồng đã nhận rằng thời này hạng đó thiệt thòi nhất. Tôi được biết một hai cán bộ trung cấp liêm khiết, chịu nghèo, nuôi heo thêm, chứ không tham nhũng. Gia đình họ phải ăn rau muống; quần áo thì vá đụp; có thể nói họ nghèo như các nông dân nghèo nhất thời xưa.

Tóm lại sau 5 năm chúng ta không thấy chút tiến bộ nào cả mà chỉ thấy sự chia rẽ trong xã hội, sự tan rã trong gia đình, sự sa đoạ của con người, sự suy sụp của kinh tế.

Phong trào vượt biên

Tôi không biết trước giờ giải phóng, từ Bến Hải trở vào, trong số trên 20 triệu dân có bao nhiêu người vội vã di cư để trốn cộng sản… Người nào cũng có tâm trạng não nề: bỏ quê cha đất tổ, bỏ thân thích bạn bè, bỏ cả sản nghiệp… để qua nước người ăn nhờ ở đậu, làm thứ công dân “da màu”, một thứ công dân hạng hai, và bắt đầu xây dựng lại từ đầu; như vậy ai mà vui cho được? Những người đi đó hoặc là quân nhân, công chức trong các chính phủ trước, hoặc đã có thời sống với cộng sản ở Bắc, sợ chế độ ngoài đó, đã di cư một lần nay lại di cư lần thứ hai. Những người ở lại, xét chung, đều sẵn sàng chấp nhận chế độ mới, dù chưa biết rõ nó ra sao; một số đông còn hăng hái tiếp tay với chính quyền mới để xây dựng một xã hội tốt đẹp cho tương lai nữa.

Nhưng chẳng bao lâu nhiều người thất vọng, qua năm 1976, đã có lác đác một số thanh niên vượt biên… Từ năm 1977 người ta dùng đường biển, phong trào vượt biên phát triển rất mạnh tới mức một bà già nông dân miền Tây phải nói: “ Cây cột đèn nếu đi được thì cũng đi”. Dù phải gian lao cực khổ tới mức nào, hễ ra khỏi được nước là sướng rồi, làm mồi cho cá mập vẫn còn hơn ờ lại trong nước mà chết dần chết mòn, người ta nghĩ vậy…

Có ba cách vượt biên. Cách chính thức, sướng nhất là có người thân, cha mẹ, vợ chồng hay con cái ở ngoại quốc xin cho được đoàn tụ gia đình…. Cách bán chính thức, theo nguyên tắc, cho người Việt gốc Hoa, nhưng người gốc Việt mà muốn thành gốc Hoa thì cũng không khó. Có tiền là được hết… Cách thứ ba lá đi chui, nghĩa là đi lậu. Một người đứng ra tổ chức… đút lót cho công an, chính quyền ở làng có bãi biển, đút lút cả cho công an vài nơi chung quanh để người vượt biên khỏi bị xét hỏi, thuyền yên ổn được rời bến ban đêm. Công an những nơi có bãi biển đó nhờ vậy làm giàu rất mau, có kẻ chỉ một hai năm được vài chục lượng vàng và ôm vàng vượt biên. Do đó mà trong dân gian xuất hiện một truyện tiếu lâm dưới đây.

“Môt hôm nọ, người canh Lăng Bác Hồ bỗng thấy xác ướp của bác biến đâu mất, hoảng hốt đi tìm khắp nơi, tìm ở nhà sàn của Bác không thấy, vế quê hương Bác ở Nghệ An cũng không thấy, nghi rằng bác vào chơi thành phố của Bác, liền vào Sài Gòn kiếm, sau cùng một đêm, thấy bác ngồi một mình, rầu rĩ ở bến Sáu Kho, Thành phố Hồ Chí Minh, hỏi bác, sao lại ra ngồi đấy, Bác đáp: “Bác không muốn ở nước này nữa, muốn qua phương Tây đây, mà tụi công an đòi Bác sáu cây, Bác có cây đâu mà nộp cho chúng”.

Thường là thoát được, ít khi gặp tàu tuần; nhưng nhiều khi gặp bão, thuyền chìm, làm mồi cho cá mập’ hoặc gặp bọn cướp biển Thái Lan… Mặc dầu nguy hiểm như vậy, người ta vẫn không sợ, thua keo này bày keo khác. Có người lần thứ tư mới thoát, lại có người lần thứ 10 vẫn chưa thoát, mà sản nghiệp tiêu tán hết, không biết sống bằng gì…

Từ cuối 1979 thêm một cách vượt biên nữa bằng đường bộ, ngã Cao Miên… Cũng nguy hiểm như vượt biển.

Người nào vượt biên được một nước nào tiếp thu rồi, được trợ cấp hay kiếm được việc làm rồi, cũng gởi ngay về cho thân nhân một gói thực phẩm, thuốc uống, quần áo… bán được một hai ngàn đồng. Họ làm lụng cực khổ, (rửa chén trong quán ăn…) nhịn hút thuốc để giúp gia đình vì biết rằng người ở lại thiếu thốn gấp mười họ. Chính nhờ họ mà nhiều gia đình miền Nam mới sống nổi, nhờ họ một phần mà dân miền Nam có thuốc tây để uống, có vải may quần áo, không đến nỗi rách rưới quá. Trong hoạn nạn tình cha mẹ, con cái, vợ ơhồng lúc này lại đằm thắm hơn xưa. Cái rủi thành cái may.

Về vật chất họ được đầy đủ, nhưng về tinh thần họ rất đau khổ. Nhờ bà con họ hàng, nhớ quê hương xứ sở, nhớ day dứt, gia diết. Họ khóc thương thân phận anh hay em ở trong các trại cải tạo mỗi bữa chỉ được nắm bo bo; thân phận cha mẹ chú bác phải đẩy chiếc xe bán củi, bán chuối dưới mưa, dưới nắng, đau ốm không có thuốc uống; thân phận con cháu quanh năm không được một li sữa, một cục đường… Có những thiếu phụ thay đổi hẳn tính tình: ở nước nhà thì thích trang điểm, dạo phố, họp bạn; qua nước người thì suốt ngày ở trong phòng lau chùi, quét tước, nấu ăn cho chồng con, không chịu ra đường, chồng con lôi kéo cũng không đi; một ngày kia họ sẽ loạn tinh thần mất. Khổ nhất là những bà 50-60 tuổi, không biết ngoại ngữ, không sao thích ứng được với đời sống Tây phương, mới xa quê được một năm đã đòi về, ngày nào cũng ngóng tin nhà, và được thư thì đọc đi đọc lại tới thuộc lòng. Ngày đêm họ quay băng “Sài Gòn ơi, li biệt” của Thanh Thuý, băng “Ta chẳng lẽ suốt đời lưu vong” của Phạm Duy mà khóc mướt. Giọng ảo não không kém bài hát dân tộc Do thái khi bị đày ở Babylon hồi xưa…

Thân phận của những người miền Nam ở lại:

Trong số những người ở lại, đáng thương nhất là những cặp vợ chồng già không có con cái, bị chính phủ chặn lương hưu trí, ráng sống lây lất vài năm bán hết đồ đạc để ăn rồi tự tử.

Rồi tới những người sản nghiệp tiêu tan vì đi kinh tế mới hoặc vì vượt biên mấy lần mà thất bại, sống cầu bơ cầu bất ở vỉa hè các thành phố lớn nhỏ như bọn ăn mày.

Rồi những cô giáo, cô kí chồng đi cải tạo 5 năm đằng đẵng, ở nhà xoay xở đủ cách, làm việc đêm ngày, nhịn ăn nhịn mặc để nuôi bốn năm đứa con, vài tháng lại tiếp tế cho chồng một lần. Họ vì hoàn cảnh mà hoá đảm đang, tư cách lại cao lên, không chịu nhận sự giúp đỡ của họ hàng, bạn bè.

Rồi những thiếu nữ học hết đại học Sư phạm hay Luật mà không muốn làm công nhân viên vì lương thấp quá, kiếm một cái sạp nhỏ nửa thước vuông bán thuốc rời hay quần áo cũ, thuốc tây ở lề đường, vất vả nhưng kiếm được 10-15 đồng mỗi ngày, đủ cơm cháo cho cha mẹ và em. Họ lễ phép, chăm chỉ, dễ thương.

Tất cả những người đó và còn nhiều hạng người khác nữa đáng tự hào là nguỵ. Nguỵ mà như vậy còn đáng quí gấp trăm bọn tự xưng là “cách mạng” mà tư cách đê tiện.

Người ta đã nhận định sai

Vậy dù có lạc quan tới mấy cũng phải nhận rằng công việc xã hội hoá miền Nam này tới nay đã thất bại. Chỉ mới dựng được cái sườn thôi mà đã có nhiều dấu hiệu tỏ rằng sườn đó đã nghiêng ngả: rất nhiều cán bộ đã hủ hoá, hùng hục làm giàu bằng mọi cách, thành một bọn tư sản rồi, tinh thần quân đội đã sa sút, hợp tác xã nông nghiệp đã thất bại, chính sách kinh tế mới phải bãi bỏ; một vài địa phương đã rụt rè lập lại chế độ tư bản…

Ngành nào cũng kẹt, kẹt cứng, chính quyền không biết xoay xở ra sao, vá chỗ này thì toạc chỗ khác, càng dùng những biện pháp nhất thời thì càng lúng túng. Ngay các các bộ trung kiên cũng phải nhận rằng tình hình mấy năm sắp tới còn nguy kịch hơn… Thật bi đát.

Chỉ tại người ta đã tính lầm. Thắng được Mĩ rồi, người ta tin rằng sẽ làm bá chủ bán đảo Đông dương, không nhận định được đúng tình hình thế giới.

Người ta nhận định sai tài năng, đạo đức, tinh thần hi sinh của cán bộ, tưởng rằng cao lắm và có thể dễ dành kiến thiết miền Nam thành một xã hội xã hội chủ nghĩa, không ngờ cán bộ tuy rất đông mà rất kém cỏi về mọi mặt, mà tối đại đa số không ưa xã hội chủ nghĩa, thích đời sống miền Nam hơn.

Người ta nhận định sai về tình trạng miền Nam. Trước ngày 30-4-75, miền Nam rất chia rẽ: nhiều giáo phái, đảng phái nhưng tiến bộ hơn miền Bắc nhiều về mức sống, kĩ thuật, nghệ thuật, văn hoá; nhờ ngôn luận được tương đối tự do, nhờ được đọc sách báo ngoại quốc, biết tin tức thế giới, du lịch ngoại quốc, tiếp xúc với người ngoại quốc…; cả về đạo đức nữa: vì đủ ăn, người ta ít thèm khát mọi thứ, ít gian tham (tôi nói số đông), ít chịu làm cái việc bỉ ổi là tố cáo người hàng xóm [Một thím làm tổ phó lo về đời sống, được công an phường gọi đi học tập. Mới hết buổi đầu, thấy công an chỉ dạy cách dò xét, tố cáo đồng bào (ăn uống ra sao, chỉ trích chính phủ không, khách khứa là hạng người nào…), thím ta xin thôi liền, về nói với bạn: “Tôi không làm công việc thất đức đó được”. Lớp học đó bỏ luôn] chứ đừng nói người thân, nói chung là không có hành động nhơ nhớp như nhiều cán bộ ở Bắc tôi đã kể ở trên. Tôi còn nhận thấy vì người Nam bị coi là nguỵ hết, nên càng đoàn kết với nhau, thương nhau: cùng là nguỵ với nhau mà!

Như vậy mà đưa cán bộ Bắc vào cai trị họ, dạy chính trị họ thì làm sao không thất bại? Bọn đó quê mùa, ngu dốt, nghèo khổ, vụng về, tự cao tự đại, bị người Nam khinh ra mặt, mỉa mai; lớp dạy chính trị cho dân chúng mỗi ngày một vắng, hiện nay cả năm không họp một lần.

Một thất bại nặng nề của cách giáo hoá đó là báo Nhân dân không ai đọc, người ta mua về để bán “ve chai”, ngay cả bộ Lénine toàn tập cũng vậy.

Sau 5 năm, cả triệu cán bộ và thường dân Bắc vào Nam mà Bắc Nam miễn cưỡng sống với nhau, lơ là vói nhau, Nam coi Bắc là bọn thực dân, tự coi mình là bị trị. Làm gì có sự hợp tác?


Sự khinh rẻ giữa Bắc - Nam:

Người Bắc coi người Nam là nguỵ, đối xử người Nam như những thực dân da trắng đối với dân “bản xứ”, tự cao tự đại, tự cho rằng về điểm nào cũng giỏi hơn người Nam, đã thắng được Mĩ thì cái gì cũng làm được. Chỉ cho họ chỗ sai lầm trong công việc thì họ bịt miệng người ta bằng câu: “Tôi là kháng chiến, anh là nguỵ thì tôi mới có lí, anh đừng nói nữa”. Chẳng bao lâu người Nam thấy đa số những kẻ tự xưng là kháng chiến, cách mạng đó, được Hồ Chủ tịch dạy dỗ trong mấy chục năm đó, chẳng những dốt về văn hoá, kĩ thuật - điều này không có gì đáng chê, vì chiến tranh, họ không được học – thèm khát hưởng lạc, ăn cắp, hối lộ, nói xấu lẫn nhau, chài bẩy nhau… Từ đó người Nam chẳng những có tâm trạng khinh kháng chiến mà còn tự hào mình là nguỵ nữa, vì nguỵ có tư cách hơn kháng chiến. Và người ta đâm ra thất vọng khi thấy chân diện mục của một số anh em cách mạng đó, thấy vài nét của xã hội miền Bắc: bạn bè hàng xóm tố cáo lẫn nhau, con cái không dám nhận cha mẹ, học trò cấp II đêm tới đón đường cô giáo để bóp vú… Thì ra: “Nhìn xa ngỡ tượng tô vàng…”

Và trong chăn mới biết có rận:

Ngay giữa các đồng chí cũng không có tinh thần đoàn kết…Chính vì thiếu đoàn kết nên trong cuộc hội họp nào người ta cũng hô hào “Đoàn kết, đại đoàn kết”. Còn ở trong phòng họp thì ai cũng hoan hô tinh thần đoàn kết, ra khỏi phòng rồi thì hết đoàn kết. Người ta chỉ đoàn kết với nhau vì quyền lợi thôi; do đó mà có tinh thần bè phái, gia đình trị, và miền Bắc có câu này: nhất thân, nhì thế, tam quyền, tứ chế.

Có người nói một số “ông lớn” đi đâu cũng có người hầu xách bình nước sâm Cao Li để ông lớn uống thay trà; một ông nọ luôn luôn có một bác sĩ ở bên và một thiếu nữ quạt hầu vì ông không chịu được quạt máy. Tôi không biết những tin đó đúng hay không, chỉ biết những tin đó do “anh em cách mạng” đưa ra cả...

Sài Gòn đưọc giải phóng vài năm thì ta thấy xuất hiện ngay một hạng giàu sang mới nổi, thay thế bọn giàu sang thời Thiệu,, và cũng thích những xa xí phẩm (áo hàng thêu, hột xoàn, máy điều hoà không khí v.v…) của thời Thiệu. Tiền đâu mà họ mua những thứ đó nhỉ?

Sự bất công chướng nhất, tàn nhẫn nhất là lương công nhân viên từ năm 1975 cứ đứng yên trong khi sự phân phối nhu yếu phẩm giảm đi gần hết, chỉ còn gạo, bo bo là tạm đủ, nhất là trong khi mãi lực của đồng bạc năm 1980 chỉ còn 1/10 năm 1975; thành thử lương một công nhân viên chỉ đủ để mua củi chụm, lương một bác sĩ mới ra trường chỉ đủ để mua rau muống ăn. Khắp thế giới không đâu có chế độ lương bổng như vậy. Người nào cũng phải bán đồ đi mà xài, nhờ cha mẹ giúp đỡ, nếu không thì phảo xoay xở mọi cách, làm sao sống được thì làm, chính phủ không biết tới. Một cán bộ ở Hà Nội đã phàn nàn: “Người ta có rất nhiều quyền hành mà không có một chút tinh thần trách nhiệm nào cả. Thật lạ lùng!”

Từ ngày 30-4-75, do những đồng bào ở Bắc vào, chúng ta ở Nam mới lần lần biết cảnh điêu đứng của dân tình ngoài đó sau hai chục năm sống dưới chế độ mới. Từ trên xuống dưới ai cũng phải ăn độn có khi tới 60%-70% (tháng 8-1980, một cán bộ giáo dục ở Hà Nội vào bào tôi bây giờ họ phải ăn độn 90%, cực khổ hơn những năm 1973-1974 nhiều lắm, mà tình trạng đó còn kéo dài lâu. Thân phận không bằng con heo ở trong Nam); có hồi gạo quí tới nỗi người ta cất vào trong những cái thố, cái liễn, trân trọng như nhân sâm, chỉ khi nào đau ốm mới lấy ra một nhúm để nấu cháo; ngày tết mà có đủ gạo nấu cơm cúng ông bà là mừng lắm; khi nào được ăn một bữa cơm không độn với nước mắm thôi thì coi như được dự một bữa tiệc. Nước mắm rất hiếm, có người ở Nghệ An hay Hà Tĩnh mấy năm không có nước mắm ăn, gặp người trong Nam ra đem theo nước mắm, xin một vài muỗng rồi nuốt ực ngay hết, không đợi đem về nhà. Bát ăn mỗi người mỗi năm chỉ được một cái, hễ vỡ thì phải ăn bằng sọ dừa. Vài mỗi năm chỉ được phát một hai thước đủ để vá áo (ở miền Nam năm 1980, có nơi mội người chỉ được 6 tấc). Nhiều người vào Sài Gòn thăm bà con, khi ra vơ vét đủ thứ, từ cây đinh, khúc dây chì, lon sữa bò, ve chai…đem ra, vì ở ngoài đó thường cần dùng tới mà không kiếm đâu ra. Họ cho miền Nam này là thiên đường.

Nhưng một người Ba Lan ở trong Uỷ ban kiểm soát quốc tế năm 1975 bào chỉ trong 5 năm miền Nam sẽ “đuổi kịp miền Bắc”, nghĩa là nghèo như miền Bắc. Lời đó đúng, rất sáng suốt. Nếu không nhờ mấy trăm ngàn kiều bào ở ngoại quốc gởi tiền, thuốc men, thực phẩm, quần áo… về gíup bà con ở đây thì chúng ta ngày nay cũng điêu đứng như anh em miền Bắc rồi.

Dân miền Nam từ xưa chưa bao giờ biết đói, phải ăn độn thì năm 1979 thì đã phải ăn độn 70-80%, có những gia đình phải ăn bữa cơm bữa cháo, có cô giáo và học sinh đói quá, tới lớp té xỉu.

Nhà nào cũng bán đồ cũ đi để ăn; nhiều giáo viên nhà đã trống rỗng, không còn bàn ghế nữa, ăn ngủ trên sàn. Ai cũng chỉ lo sao có cái gì nuốt cho đầy bao tử, chứ không dám nghĩ tới miếng ngon. Tết Canh Thân vừa rồi, ở Long Xuyên, nhà một giáo viên hồi hưu, trên bàn thờ ông bà chỉ bày một đĩa có mấy chiếc bánh phồng và bánh gai, không có một đòn bánh tét, một quả dưa hấu.

Khổ nhất là bọn đi kinh tế mới, thất bại, tiêu tan hết vốn liếng, về Sài Gòn, sống cảnh màn trời chiếu đất, ăn xin, moi các đống rác hôi thối, lượm một miếng giấy vụn, một túi ni lông, một miếng sắt rỉ, một quai dép mủ… để bán cho ‘ve chai’. Trông thấy đống túi ni lông được rửa qua loa trong nước dơ rồi phơi ở lề đường để bán cho tiểu thương đựng hàng, tôi ghê tởm quá.

Ở Bắc tình hình hiện nay điêu đứng hơn những năm kháng Mĩ. Nghe nói ngoài đó đã xuất hiện câu ca dao:


Anh Đồng, anh Duẩn, anh Chinh,
Ba anh có biết dân tình hay không?
Rao muống nửa bó một đồng
Con ăn bố nhịn, đau lòng thằng dân.

Ở Nam có nơi hai tháng nhân viên chưa được lãnh lương, chắc nhiều gia đình không đủ tiền mua rau muống cho con nữa. Một bạn tôi đã phải ăn nước mắm kho khô.

Không có tiền mua rau thì làm gì có tiền mua thịt. Muốn lâu lâu có thịt thì phải nuôi heo, gà, cho nên nhiều cơ quan ngay khi mới thành lập đã nghĩ ngay đến việc hùn tiền (hay lấy trong quĩ?) mua heo con, phân công nhau nuôi tại khu ở tập thể, như vậy đến lễ, tết mới có thịt liên hoan. Người ta thèm thịt quá, cho nên liên hoan lu bù, bất kì một dịp gì cũng liên hoan được… mỗi năm liên hoan cả chục lần là ít… Và khi ngồi vào bàn tiệc thì chẳng ai mời ai, đợi ai, mạnh ai nấy gắp, ăn thật mau (tới nỗi có người bảo cứ nuốt trước rồi sẽ nhai sau!), tệ gấp 10 thói ăn uống ở đình làng mà Ngô tất Tố đã mạt sát trong cuốn Việc làng.

Nghèo thì sinh ra ở bẩn. Ngay trong khu tập thể một trường đại học Hà Nội, phòng một giáo sư ở Pháp về cũng dơ dáy, từ sàn gạch đến tường đều đầy vết bẩn… Dù muốn sống sạch cũng không thể được... Nếu tình trạng không thay đổi thì chỉ mươi năm nữa, toàn dân sẽ quen đi, không thấy gì là bẩn nữa. Hiện nay ở trong Nam đã nhiều nhà để bụi đóng đầy bàn ghế - mà trước kia họ sống rất sạch - mạng nhện giăng đầy trần, còn dân thị xã thì đã quen với cảnh bốn năm người cùi nằm trên đường đưa tới chợ, lăn ở giữa chợ để xin ăn.

Câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” của ông cha, chúng ta không giữ được vì chúng ta nghèo tới mức không thể ở sạch được???



GS Nguyễn Văn Tuấn: Thư gửi Bộ Y tế Úc xin viện trợ Vaccine phòng covid

 Ngày 26-7-2021 Hôm nay nhận được một lá thư từ Bộ Y tế Úc, với một chút hi vọng về chuyện vaccine. (xem thư đính kèm email) Các bạn có lẽ c...