Hiển thị các bài đăng có nhãn vănhóa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn vănhóa. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012

Đầu năm viếng chùa: Huê Nghiêm tự

Chùa Huê Nghiêm cũng tọa lạc trên đường Đặng Văn Bi, quận Thủ Đức, cách Tu viện Quảng Đức khoảng 1-1,5km. Sau khi viếng chùa về, search thông tin trên mạng mình mới biết đây là ngôi chùa cổ nhất thành phố hiện nay.

Bài viết được minh họa từ hình mình chụp chùa vào chiều nay 29/1/2012

Đây là đoạn trích giới thiệu chùa từ trang Vietgle 

Chùa được thiền sư Thiệt Thụy (Tánh Đường) khai sơn vào thế kỷ XVIII. Tên gọi Huê Nghiêm xuất phát từ việc lấy tên bộ kinh Huê Nghiêm đặt tên chùa. Lúc đầu, chùa xây ở vùng đất thấp, cách ngôi chùa hiện nay khoảng 100m. Về sau, bà Nguyễn Thị Hiên đã hiến đất để xây dựng lại ngôi chùa.

Tại đây còn lưu truyền câu chuyện kể về bà Nguyễn Thị Hiên như sau: khi bà Hiên sắp lâm chung, bà nhờ viết trên lòng hai bàn tay một câu bằng son đỏ: “Nguyễn Thị Hiên, làng Linh Chiểu Đông, Gia Định, chùa Huê Nghiêm, An Nam”.

Năm 1821, hoàng hậu nhà Thanh (Trung Quốc) hạ sinh công chúa, trên lòng bàn tay hiện rõ những chữ bằng son đỏ hệt như ở lòng bàn tay bà Hiên. Sau đó vua Thanh sai sứ sang Việt Nam và tìm đến chùa Huê Nghiêm để tìm xác nhận điều linh ứng trên. Sứ nhà Thanh xin trùng tu chùa và xây lại ngôi mộ cho bà Hiên, đồng thời cũng hiến tặng chùa một pho tượng quan âm bằng đồng, cao 80cm.

Dưới thời tổ Huệ Lưu làm trụ trì, chùa đã được đại trùng tu một lần vào cuối thế kỷ XIX. Sau đó, tổ Lệ Phương lại tiếp tục cho sửa sang, tu bổ thêm vào các năm 1960, 1969 và 1990.

Các vị Tổ nối tiếp nhau trụ trì chùa Huê Nghiêm gồm: Tổ Tế Lý, Đạt Lý, Tế Giác, Tế Vĩnh, Huệ Lưu, Hồng Tín, Thiện Bửu, Khánh Bình, Trí Đức. Trong đó, đặc biệt là tổ Huệ Lưu, đã châm lửa tự thiêu mình cúng Phật tại chùa Huê Nghiêm ngày 12 tháng Giêng năm Mậu Tuất (1898) vì không muốn bị quấy nhiễu bởi cám dỗ thường tình.

Còn đây là đoạn trích giới thiệu chùa Huê Nghiêm 2 từ trang web vncgarden

 Chùa tọa lạc ở số 204 đường Đặng Văn Bi, phường Bình Thọ, quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày nay, chùa thường được gọi là chùa Huê Nghiêm 1 để phân biệt với chùa Huê Nghiêm 2 ở phường Bình Khánh, quận 2 do HT Thích Trí Quảng sáng lập năm 1975. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.

Chùa được Thiền sư Thiệt Thụy – Tánh Tường (1681 – 1757) khai sơn vào thế kỷ XVIII. Nhiều tư liệu hiện nay đã xác định năm thành lập chùa là 1721, là ngôi chùa cổ nhất ở thành phố hiện nay.

Lúc đầu, chùa xây ở vùng đất thấp, cách ngôi chùa hiện nay khoảng 100m. Về sau, bà Nguyễn Thị Hiên (1763 – 1821) pháp danh Liễu Đạo, tự Thành Tâm, đã hiến đất để xây lại ngôi chùa.

Chư vị trụ trì tiền nhiệm của chùa là: HT Thiệt Thụy – Tánh Tường (đời thứ 35 Lâm Tế Chánh Tông), HT Tế Lý – Quảng Đức (đời thứ 36 Lâm Tế Chánh Tông), HT Liễu Xuân – Tiên Minh (đời thứ 37 Lâm Tế Chánh Tông), HT Đạt Lý – Huệ Lưu (đời thứ 38 Lâm Tế Chánh Tông), HT Từ Thông – Hồng Tín (đời thứ 40 Lâm Tế Gia Phổ), HT Lệ Phương – Thiện Bửu (đời thứ 42 Lâm Tế Gia Phổ), HT Hồng Phước – Trí Đức (đời thứ 40 Lâm Tế Gia Phổ), Trụ trì hiện nay là HT Nhật Lượng – Trí Độ (đời thứ 41 Lâm Tế Gia Phổ). Viện chủ là HT Nhật Nghiêm – Trí Quảng (đời thứ 41 Lâm Tế Gia Phổ).

Chùa được trùng tu nhiều lần. Lần trùng kiến lớn nhất vào cuối thế kỷ XIX do Thiền sư Đạt Lý – Huệ Lưu tổ chức. Kiến trúc chùa hiện nay được thay đổi ở những lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 và 2003 do các ngài Thiện Bửu, Trí Đức và Trí Độ tổ chức, với mái ngói chồng diêm, các đầu đao cong vút. Bờ nóc mái trang trí những hoa sen cách điệu.

Khuôn viên chùa khá rộng, có nhiều tháp cổ. Tam quan chùa và đài Quan Âm ở sân trước chùa được xây vào năm 1990. 

Chánh điện được bài trí tôn nghiêm. Chính giữa tôn trí tượng Di Đà Tam Tôn (đức Phật A Di Đà, Bồ tát Quan Thế Âm và Bồ tát Đại Thế Chí). Bàn thờ kế tiếp thờ Thích Ca Tam Tôn (đức Phật Thích Ca, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền). Trước có tượng Thích Ca Đản sanh và bảy vị Phật Dược Sư. Bàn thờ hai bên thờ Bồ tát Quan Âm Thiên thủ Thiên nhãn và Bồ tát Di Lặc. Sau điện Phật, có bàn thờ linh vị chư Tổ và bàn thờ bà Nguyễn Thị Hiên cùng chư vị Phật tử quá cố.

Bài Tổ đình Huê Nghiêm và huyền thoại ở ngôi mộ cổ (Báo Giác Ngộ ngày 10-01-2001) cho biết: “Đến cuối đời, trước ngày tạ thế, bà bảo với mọi người rằng mình sẽ lâm chung vào ngày mồng 1 tháng 6. Rồi bà nhờ người thân viết vào lòng bàn tay bằng sơn đỏ với dòng chữ: Nguyễn Thị Hiên, làng Linh Chiểu Đông, Gia Định, An Nam, Hoa Nghiêm Tự. Cùng năm ấy (1821), Hoàng hậu triều Mãn Thanh (Trung Quốc) hạ sanh công chúa, ở bàn tay cũng có những chữ giống như trên tay bà Hiên. Vua Mãn Thanh đã gửi sứ giả qua Việt Nam làm rõ nguyên nhân. Theo địa chỉ trên, họ tìm tới chùa Huê Nghiêm và được Tổ Tế Lý (1763 – 1829) xác thực là đúng. Sứ nhà Thanh đã xin trùng tu lại ngôi chùa và xây cất ngôi mộ bà Nguyễn Thị Hiên trong khuôn viên chùa”.

Sách Sổ tay hành hương đất phương Nam (NXB TP. Hồ Chí Minh, 2002) cho biết: “Bà Hiên là một Phật tử chí thành. Bà không chỉ hiến mảnh đất để dựng chùa mà còn là một thí chủ nổi tiếng về lòng từ thiện. Tục truyền, do công đức lúc sanh tiền nên sau khi tạ thế, bà được đầu thai làm công chúa triều nhà Thanh (Trung Quốc). Truyền thuyết kể rằng: Năm 1821, Hoàng hậu nhà Thanh sanh một công chúa, trên lòng bàn tay công chúa nổi một dòng chữ son đỏ: Nguyễn Thị Hiên, Linh Chiểu Đông thôn, Gia Định, Đại Nam. Chính vì vậy, vua nhà Thanh đã sai sứ sang xứ ta để truy tìm tông tích. Tìm đến chùa Huê Nghiêm, xác định rõ lai lịch bà Nguyễn Thị Hiên, sứ giả đã kể lại điều hiển linh kỳ diệu đó, và dâng cúng cho chùa một pho tượng Quan Âm bằng đồng”.

Chùa là nơi phát xuất nhiều vị cao tăng của Phật giáo miền Nam, như Thiền sư Tế Giác – Quảng Châu tức Tiên Giác – Hải Tịnh, Thiền sư Đạt Lý – Huệ Lưu, Hòa thượng Thích Từ Văn, Hòa thượng Thích Trí Đức, Hòa thượng Thích Trí Quảng…

Thiền sư Tế Giác – Quảng Châu được xem là vị Tổ quan trọng nhất ở miền Nam vào thế kỷ XIX. Ngài Tế Giác xuất gia với Tổ Thiệt Thụy, sau đấy, trên đường tiến tu, ngài đã đến tham vấn học đạo với Tổ Phật Ý – Linh Nhạc. Vâng lời chỉ dạy của Tổ Phật Ý, ngài cầu pháp với Tổ Tổ Tông – Viên Quang nên có tên là Tiên Giác – Hải Tịnh (theo dòng truyền thừa của hệ Lâm Tế Gia Phổ). Năm 1825, vua Minh Mạng sắc phong chức Tăng cang cho ngài và bổ nhiệm trụ trì chùa Thiên Mụ (Huế). Đến đời Thiệu Trị, ngài được cử làm trụ trì chùa Giác Hoàng. Ngài đã giáo dưỡng, đào tạo nhiều nhân tài cho Phật giáo. Ngài đã trở thành Tổ sư của cả ba tông: Lâm Tế Chánh Tông, Lâm Tế Gia Phổ và Tế Thượng Chánh Tông.

Hàng hậu học nối tiếp dòng Lâm Tế Chánh Tông của Tổ Tế Giác có Tổ Đạt Lý – Huệ Lưu, nổi tiếng là ông vãi bán khoai. Trên đường hành đạo, ngài đã góp phần giáo hóa dân chúng bằng lối thơ mộc mạc.

Đặt ngôi chùa trong quan hệ thân thiết với cộng đồng làng xã, chùa còn giữ bài thơ của Tổ Huệ Lưu gửi làng Linh Chiểu Đông (Gia Định) năm 1897. Bài thơ có đoạn:

Kính thăm hương chức hai chữ miên trường.
Kể từ tôi cư ngụ bổn hương
Tính đã có chín năm đủ vậy
Thấy trong làng những ai cùng nấy
Trên thuận hòa, dưới cũng thuận hòa …
Chốn non đài tôi ngụ hôm nay
Việc am tự nhờ làng chiếu cố
Tôi cũng muốn dốc lòng bồi bổ
Có lời nguyền phải gắng ra đi
Ở trong chùa cúng kiếng việc chi
Chúng tăng thỉnh làng vô nhắc nhở …

Hải Đường trong bài Chùa cổ Huê Nghiêm – một số linh vị và truyền thuyết (Báo Giác Ngộ ngày 31-7-1999) cho biết: “Có một mỹ nữ con ruột quan Tri huyện, thương yêu Hòa thượng tột cùng, nên đã không ngừng tới chùa dụ dỗ, cưỡng ép Hòa thượng từ bỏ cửa thiền để làm vị hôn phu của cô. Hòa thượng Huệ Lưu vì đã Đạt Lý chơn tu hơn người nên đã phần thân (xà dy – tự thiêu) về cõi Phật, giữ trọn đạo hạnh, khiến tăng chúng kính phục, tôn làm Tổ”. Trên tháp và linh vị Tổ Huệ Lưu có ghi: “Sùng kiến Huê Nghiêm đường thượng, tự Lâm Tế Chánh Tông tam thập bát thế, húy Đạt Lý, thượng Huệ hạ Lưu Hòa thượng xà dy giác linh miêu tọa …”.

Xuất thân tu học từ tổ đình Huê Nghiêm, HT Thích Trí Quảng, đương nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Trưởng ban Hoằng pháp trung ương, Trưởng ban Trị sự Phật giáo TP. Hồ Chí Minh.

Hằng năm, rất đông Tăng Ni, Phật tử khắp nơi về chùa dự lễ húy kỵ Tổ khai sơn vào ngày 06–10 âm lịch và húy kỵ Tổ Huệ Lưu vào ngày 12 tháng giêng âm lịch.

Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng ở thành phố xưa nay, đón tiếp thường xuyên Phật tử, du khách trong nước, nước ngoài đến tham quan, chiêm bái.

Chùa Việt Nam - Xưa và Nay
Võ văn Tường





Tháp cổ
Nam mô, A Di Đà Phật

Đầu năm viếng chùa : Tu viện Quảng Đức

Mùng 7 Tết Nhâm Thìn (chủ nhật ngày 29/1/2012), cùng bé Trâm đi viếng vài kiểng chùa. Đầu tiên 2 chị em ghé Tu viện Quảng Đứcsố 2 Đặng Văn Bi phường Trường Thọ Quận Thủ Đức.

Chỉ mới một năm thôi tu viện Quảng Đức đã có nhiều thay đổi,  có thêm vài gian thờ phụng, xây thêm 1 tầng có tượng Phật Thích Ca màu trắng nằm ngự. Ai ghé chùa Quảng Đức về cũng ấn tượng với bức tượng khổng lồ này.

Vài tấm hình chụp chùa Quảng Đức đầu Xuân

Cổng vào Tu viện Quảng Đức

Cổng chùa nhìn từ bên trong 

(hàng chữ Hán đọc từ bên phải qua: 
QUẢNG ĐỨC TU VIỆN)
Nhìn từ giữa sân chùa
Ở phía trên là nơi có tượng Đức Phật nằm, hai bên có cầu thang cẩm đá dẫn lên

Vào đây thắp nhang xin tờ xăm quẻ đầu năm
 (quẻ trong phong lì xì đặt trên 2 mâm ở 2 bên)
Mình nhận được QUẺ PHƯỚC LỘC (kiết)
Nhà an, phước lộc đến,
Vinh hoa, gặp kiết tường.
Trăm việc đều vừa ý,
Muôn dặm huệ lan thơm.
Phía bên phải là tiểu cảnh khi Đức Phật ra đời, tiểu cảnh này đã được thu nhỏ diện tích 
Chánh điện, phía trước có tượng Phật Bà Quan Âm
Thành tâm khấn vái cầu Quan Âm phò hộ
A Di Đà Phật, Đại Từ Đại Bi
Tượng Đức Phật nằm

Tu viện Quảng Đức nằm gần ngã tư Bình Thái, khi nào các bạn đến Thủ Đức chơi  mời ghé viếng chùa.
Nam mô, A Di Đà Phật

 

Thứ Bảy, 26 tháng 6, 2010

Giỗ đầu lặng lẽ NSND Phùng Há



Năm nay, nếu ko có 1 tin nhỏ trên báo Tuổi Trẻ chắc ít ai còn nhớ đến ngày giỗ tròn 1 năm NSND Phùng Há lặng lẽ chia tay cuộc đời.
Vẫn như năm trước, thông tin về cái chết của Micheal Jackson tiếp tục tràn ngập báo đài, truyền hình... mọi người ồn ào về một siêu sao bên kia bờ Đại dương thay vì tưởng nhớ vị Tổ của ngành sân khấu cải lương
Hỏi sao cải lương mất dần khán giả, hỏi sao chẳng ai đoái hoài nghệ thuật dân tộc khi giới truyền thông mải mê lạc đường....

Bạc bẽo quá tình người!
..............................
Sáng 24-6, tại chùa Nghệ Sĩ (quận Gò Vấp, TP.HCM), ban quản trị chùa đã tổ chức lễ giỗ đầu của nghệ sĩ nhân dân (NSND)Phùng Há.

Ngày giỗ của bà được tổ chức nghiêm trang và khá lặng lẽ. Ông Diệp Nam Thắng (tức bầu Xuân) - trưởng ban quản trị chùa - cho biết: “Rất nhiều nghệ sĩ yêu mến muốn cùng tổ chức một lễ giỗ rình rang cho xứng với vị thế của bà nhưng chúng tôi thực hiện theo đúng lời dặn dò của bà trước khi mất, bà muốn những ngày lễ giỗ được tổ chức một cách đơn giản, khiêm nhường và không phô trương, tốn kém!”.

Ông bầu Xuân cho biết thêm từ ngày NSND Phùng Há ra đi, các hoạt động cứu trợ vẫn được ban quản trị duy trì đều đặn theo đúng mong muốn của bà. Sắp tới, ban quản trị và các cấp lãnh đạo thành phố sẽ chính thức cho ra mắt quỹ từ thiện mang tên NSND Phùng Há nhằm san sẻ những khó  khăn với nghệ sĩ và bà con nghèo trên khắp đất nước.

http://tuoitre.vn/Van-hoa-Giai-tri/386317/Gio-dau%C2%A0NSND-Phung-Ha.html

Đơn giản thôi, trong suy nghĩ của bất cứ ai: NSND Phùng Há là chí tôn cao cả của tất cả những ai trong giới cải lương. Đơn giản thôi, ngày giỗ của Người chắc chắn sẽ có rất đông nghệ sĩ đến tham dự, sẽ có một chương trình văn nghệ hay một buổi lễ để tưởng nhớ đến Người, dù đơn sơ giản dị nhưng cũng sẽ rất ấm cúng, thân thương, người đến dự sẽ ngậm ngùi thương tiếc cho bà, mới đó mà đã một năm chùa NS không có hình bóng của Người…Nhưng không, một sự giản đơn, buồn tẻ làm cho người đến dự cũng thấy buồn nao nao… Đến từ sáng sớm, khi đến đây (chùa NS) đã thấy một khung cảnh đơn sơ ngay từ cái nhìn đầu tiên, cổng chính của chùa vẫn đóng kín, một điều khác thường, bởi trong những dịp quan trọng…cổng sẽ mở đón chào quan khách. Vào trong chùa, một dãy bàn đã để sẳn...chờ mãi chẳng thấy ai, nghệ sĩ đâu cả rồi, những quan khách quan trọng ở Thành Phố, ở Hội Nghệ Sỹ đâu rồi? tiếng trống chầu chùa vang lên: Con cháu, người thân đang quỳ để tụng kinh cho má Bảy.



Kết thúc tụng kinh nhìn lại có mặt của: G.S Trần Văn Khê - NS Nam Hùng – Tô Kim Hồng – Kiều Tiên – Thọai Mỹ - Thúy Uyển – NS Phượng Loan – ông Đinh Bằng Phi – SG Kiên Giang – SG Hùynh Nga và các khán giả, người thân… Tất cả cùng ra dùng bửa cơm chay, xong mạnh ai nấy ra về trong lặng lẽ…


http://www.cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=5914





Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG PHÁT TRIỂN MÀ KHÔNG NGOẠI LAI

Start:     Aug 1, '09 7:30p
End:     Aug 1, '09 10:00p
Location:     32 Huỳnh Đình Hai P.24 Q.Bình Thạnh TPHCM
SINH HOẠT NGHỆ THUẬT ĐỊNH KỲ LẦN 11
ÂM NHẠC TRUYỀN THỐNG PHÁT TRIỂN MÀ KHÔNG NGOẠI LAI

PHẦN 1: GS Trần Văn Khê giới thiệu
Một loại hình âm nhạc được gọi là truyền thống khi do chính người Việt sáng tạo; được đa số quần chúng chấp nhận, biểu diễn và thưởng thức, chắc lọc những nét đặc sắc và lưu truyền qua nhiều thế hệ
Có những loại nhạc rất được ưa chuộng, nhưng chỉ tồn tại trong một giai đoạn rồi chìm vào quên lãng được xem như là thời trang đến rồi đi. Còn âm nhạc truyền thống thì vừa có bề dày của lịch sử vừa có chiều sâu của nghệ thuật, chịu thử thách của thời gian mà vẫn trường tồn.
Nhưng một truyền thống không phải bất di bất dịch mà có thể thay đổi theo thời đại, theo nếp sống và quan điểm thẩm mỹ của quần chúng. Nếu không thì truyền thống đó sẽ bị xơ cứng, không phát triển, dẫn đến việc có thể bị chìm vào quên lãng.
Chính vì vậy, những bài bản nào được phát triển một cách hài hòa từ bên trong của truyền thống thì được phổ biến rộng rãi, như bài “Dạ cổ hoài lang”, biến thể từ nhịp đôi ban đầu đã chuyển sang nhịp tư, nhịp tám, nhịp mười sáu, nhịp ba mươi hai, cho đến nay vẫn còn được ưa thích.
Trong nhạc tài tử, những dị bản được phát triển theo phong cách “chân phương – hoa lá” thì dễ được chấp nhận, như bài “Lưu thủy khúc” được chuyển thành “Lưu thủy thục giang”, “Lưu thủy đoản”, “Lưu thủy đổi ngón”, đến “Lưu thủy trường”.
Trong bộ môn cải lương, từ sau năm 1945 có thêm những bài bản mới được sáng tác dựa theo các thang điệu âm thức cổ truyền, các chữ đàn có già có non, có nhấn nhá, luyến láy theo phong cách xưa; những bài bản này lại thể hiện bằng các nhạc cụ dân tộc nên được giới trong nghề cũng như quần chúng ưa thích và chấp nhận. Một số bài điển hình như “sương chiều Tú Anh” (theo hơi Quảng), “Đoản khúc Lam Giang” (theo hơi Ai Oán), “Tình Bắc duyên Nam”…
Ít người biết rằng từ năm 1972, ông Nguyễn Tri Khương (Năm Khương) đã sáng tác nhiều bài bản mới theo phong cách tài tử, cải lương cổ trong tuồng cải lương “Giọt lệ chung tình” do gánh hát Đồng Nữ Ban (của cô Ba Viện thành lập tại Vĩnh Kim, chợ Giữa), ông Năm Khương có sáng tác những bài như “Yến tước tranh ngôn” (theo hơi Bắc), “Phong xuy trịch liễu” (theo hơi Xuân nữ, với tiết tấu của bài Nam tẩu); “Thất trĩ bi hùng” (theo hơi Ai, mà trong 3 đoạn theo hơi Bán Xuân Bán Ai), với lời văn chải chuốt và âm điệu ngọt ngào. Tiếc rằng thời gian tồn tại của Đồng Ban Nữ quá ngắn ngủi (chỉ hoạt động vỏn vẹn hơn một năm thì bị chánh quyền thuộc địa rút giấy phép vì cho rằng gánh hát có tinh thần cách mạng) nên những bài bản mới đầy tính nghệ thuật nói trên chưa có đủ thời gian gây ấn tượng trong quần chúng.
Trong lĩnh vực nhạc khí thuộc bộ gõ của truyền thống Việt Nam cha ông chúng ta đã sáng tác những bài bản rất tinh vi cho nhiều loại trống và nhạc khí bằng gỗ hay bằng đồng, để dùng trong các buổi tế lễ trên sân khấu.
Buổi sinh hoạt văn nghệ định kỳ lần 4 với chủ đề “Nhạc lễ VN và các loại trống” – tổ chức hồi tháng 4.2007 tại tư gia GS Trần Văn Khê – đã có dịp giới thiệu những bài bản trống phát triển mà không mang tính chất ngoại lai. Bằng cách sử dụng nhạc khí cổ truyền với phong cách cổ, lần này nghệ sĩ sẽ giới thiệu vài sáng tác mới như “Phát triển Bồng”, “tiết tấu Lý ngựa ô”, ngẫu hứng…
Điều này cho thấy tấm lòng của những nghệ sĩ, chẳng những thiết tha giữ gìn truyền thống bằng cách vay mượng những yếu tố bên ngoài, chẳng hạn như dùng quy luật hòa âm đối vị của phương Tây, biến những bài dân ca đơn âm thành một bài đa âm với nhiều bè,… kết quả là tạo ra một loại nhạc mang âm hưởng ngoại lai. Những loại hình “dân ca cải biên” hay được “nâng cao” đó không tồn tại lâu vì không được đa số quần chúng chấp nhận.
PHẦN 2
- GS Trần Văn Khê giới thiệu một số bài bản với đầy đủ nội dung và xuất xứ
Các tiết mục này là những thí dụ cụ thể về phát triển hay đổi mới âm nhạc truyền thống nhưng vẫn giữ được bản sắc văn hóa dân tộc, ko vay mượn bừa bãi những phong cách của nước ngoài, không hướng về các loại nhạc Rock, Pop của phương Tây
Nghệ sĩ minh họa:
Nhóm đàn: Hải Phượng – Huỳnh Khải – Thu Hà
Trống và bộ gõ: Nhứt Dũng – Thanh Hùng – Hiệp Liệt
Nếu sức khỏe cho phép, diễn giả sẽ ca hai bài “yến tước tranh ngôn” và “Thất tri bi hùng”, sáng tác của ông Nguyễn Tri Khương.
PHẦN 3
Giao lưu giữa khác giả với nghệ sĩ và diễn giả

Thứ Năm, 2 tháng 7, 2009

Bảo tồn văn hóa dân tộc ?


NX: một tiết mục kinh dị đại diện cho "quay về văn hóa nghệ thuật dân tộc"

Sự tích hợp các yếu tố văn hóa ngoại lai trong các thành tố văn hóa dân tộc, trong đó, các yếu tố Tây phương lấn lướt hơn cả là điều tất yếu trong bối cảnh toàn cầu hóa. Thôi thì đủ mọi thành tố, từ ngôn ngữ đến trang phục, nếp ăn nếp ở, ma chay cuới xin…, tất cả không ít thì nhiều đều nhuốm màu Tây phương. Và nếu tiếp thu các giá trị mới từ bên ngoài mà không có bản lĩnh văn hóa dân tộc, thì sự hòa tan, mất gốc… sẽ là điều khó tránh khỏi.

Trong dòng chảy lịch sử, đã có một thời văn hóa dân gian được coi như tầng nền cơ bản của văn hóa dân tộc và chiếm giữ vị trí độc tôn trong lòng người dân nước Việt. Thời gian trôi qua, biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử đã làm thay đổi cả một thời kỳ của văn hóa dân tộc. Vị trí địa lý “mặt tiền” cửa biển kéo dài khiến cho lịch sử dân tộc ta luôn phải đối mặt với những cuộc xâm lăng triền miên, trước là đất đai, sau đến văn hóa, nền văn hóa dân tộc từ chống trả quyết liệt, dần chuyển sang thế cầm cự và chấp nhận giao lưu. TIẾP & BIẾN – Đó là số phận văn hóa dân tộc ta! “Tiếp biến” khiến cho nền văn hóa dân tộc có thể thích ứng với mọi cuộc “thử lửa” trớ trêu của lịch sử.
Trước hết phải nói đến sự thay đổi về chữ viết. Từ chỗ dùng chữ Hán, hệ thống chữ Nôm của riêng người Việt ra đời. Cho đến thời vua Quang Trung đã có quy định thống nhất dùng chữ Nôm trong các văn bản Nhà nước. Khi người Pháp bắt đầu đặt nền móng cho cuộc đô hộ 100 năm, hệ thống chữ Quốc ngữ với ký tự La - tinh đã xuất hiện và dần thay thế hệ thống chữ Nôm, chữ Hán một cách có chủ đích. Cùng với nó, trào lưu văn hóa phương Tây (với văn hóa Pháp là nòng cốt) dần dà lấn lướt, bén rễ và chiếm một chỗ đứng vững chắc trong thành phần văn hóa dân tộc.


Thử phân tích sự thay đổi về chữ viết, chúng ta sẽ thấy rõ tính hai mặt của vấn đề. Bên cạnh việc dễ phổ cập cũng như sự tiện dụng mà nhiều người đã nói, chỉ trong khoảng một thế kỷ, chữ quốc ngữ đã thực sự trở thành một thành tố không thể tách rời của văn hóa dân tộc Việt Nam, mở ra một trang sử mới của văn hóa dân tộc với ảnh hưởng sâu rộng của văn hóa phương Tây. Người ta gọi đó là “tiếp thu văn hóa mới”. Có lẽ không cần bàn nhiều về những hệ quả xán lạn của sự chuyển biến này, ở đây xin nêu ra một góc nhìn khác, một tham chiếu hoàn toàn khác với những giả định theo phép logic.
Hãy tưởng tượng, nếu không có sự thay đổi đó, chắc chắn nền Nôm tự của Việt Nam cũng sẽ tự thân vận động phát triển để dần thích ứng với thời cuộc, hội nhập với hoàn cảnh lịch sử. Có thể lấy nhiều ví dụ ở các nước đồng văn phía Bắc để minh chứng cho tính hợp lý của lập luận này: Họ cũng hoàn thiện dần chữ viết tượng hình trong sự phát triển bộn bề của thời đại mới, mà “không cần” phải chuyển con chữ dân tộc sang ký tự La - tinh phương Tây1. Một thực tế không thể phủ nhận được là, sau khi dân tộc ta đổi chữ viết theo ký tự La - tinh, toàn bộ hệ thống thư tịch của ông cha trong quá khứ nghiễm nhiên dần bị “đặt” ra ngoài luồng nhận thức phổ thông, lượng người có thể đọc – hiểu chữ Hán, chữ Nôm ngày càng thưa dần theo thời gian. Điều đó có nghĩa là toàn bộ những di sản, những thông điệp dạng văn tự mà người xưa muốn gửi gắm, lưu truyền cho hậu thế đã vô tình bị đặt ở thế khó tiếp cận và các tác phẩm của cha ông gần như trở thành một kiểu dạng… “ngoại ngữ” (nghĩa tương đối). Muốn hiểu được cha ông viết gì, buộc phải chuyển đổi các văn bản Hán tự, Nôm tự qua một cầu dịch thuật thành chữ Quốc ngữ với nhiều hạn chế khó tránh khỏi. Hơn thế nữa, làm sao có thể dịch hết toàn bộ kho tàng thư tịch cổ?! Càng không thể thay thế, chuyển đổi toàn bộ hoành phi, câu đối, văn bia ở hệ thống các thiết chế văn hóa cổ truyền thành… chữ Quốc ngữ!!! Đành phải chấp nhận một thực tế, đó trở thành cõi riêng “đi về” của một bộ phận trí thức nhỏ. Giới trẻ mỗi thế hệ ngày càng khó có thể tiếp nhận kho tàng vô giá đó. Hoàn cảnh lịch sử khiến họ phải thu nạp thông tin ngày càng nhiều hơn các thế hệ đi trước. Giờ đây, một thanh niên trí thức thời đại mới luôn được đòi hỏi phải biết vài ba ngoại ngữ bên cạnh hàng mớ tri thức khổng lồ khác để cập nhật với thời cuộc. Sự quá tải văn hóa, ngôn ngữ, tri thức mới trong thời đại bùng nổ thông tin – “thế giới phẳng” sẽ là tất yếu. Trong tình trạng đó, chữ viết – tri thức của tổ tiên cũng như  biết bao thành tố văn hóa dân tộc khác đương nhiên dễ bị rơi vào thế yếu trong sự lựa chọn của giới thức giả thời đại.
Sự tích hợp các yếu tố văn hóa ngoại lai trong các thành tố văn hóa dân tộc ngày nay, trong đó các yếu tố Tây phương lấn lướt hơn cả, là điều không thể phủ nhận. Thôi thì đủ mọi thành tố, từ ngôn ngữ đến trang phục, nếp ăn nếp ở, ma chay cuới xin…, tất cả không ít thì nhiều đều nhuốm màu Tây phương. Giao lưu văn hóa luôn có hai mặt, nếu tiếp thu các giá trị mới từ bên ngoài mà không có bản lĩnh văn hóa dân tộc, thì khó tránh khỏi bị hòa tan, mất gốc… Ngày nay, mấy ai hiểu được bản chất việc học ngoại ngữ chính là sự mở đầu cho quá trình tiếp nhận, thụ hưởng các giá trị văn hóa của dân tộc sở hữu ngôn ngữ đó. Khi đến Viện Goethe, Hội đồng Anh, Trung tâm Văn hóa Pháp… học ngôn ngữ của họ, cũng chính là ta đang mở ra một phương hướng tiếp cận – hấp thụ văn hóa dân tộc của họ. Lẽ thường, học gì “nhiễm” nấy, sự thâm nhập của văn hóa nước ngoài vào từng cá thể luôn là điều tất yếu trong thời đại mới, đặc biệt là khi cách mạng công nghệ thông tin bùng nổ tạo nên một “thế giới phẳng”. Thế nên bản lĩnh văn hóa dân tộc mới là vấn đề cần phải bàn. Bởi nó chính là “nội lực” cân bằng, những mong tạo được thế “ỷ dốc” để con người Việt Nam thời đại vững tiến.
Xin lấy ví dụ: Thời xưa, màu trắng vốn được coi là màu biểu tượng tang tóc, thì ngày nay, tuyệt đại đa số cô dâu đều muốn mặc váy đầm trắng tinh… như Tây. Nhiều năm gần đây mới thi thoảng có người dám mặc áo dài đỏ (vốn là biểu tượng Hỷ của thời xưa). Lễ phục truyền thống dân tộc, mấy ai dám mặc trong dịp đại lễ? Ngay trong các lễ hội nơi dân dã, sẽ không mấy ngạc nhiên khi ông chủ tế mặc áo lễ kiểu cổ truyền nhưng bên trong vẫn lòi ra cái củ cà-vạt. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, việc dùng các thuật ngữ Tây hay lai Tây thay cho các từ thuần Việt hiện nay không còn là điều hiếm thấy. Đặc biệt trong nghệ thuật, sự “Tây phương hóa” đã một thời được coi là công cuộc “hiện đại hóa, khoa học hóa, thời đại hóa” để “canh tân” văn  hóa dân tộc. Ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật, dường như có yếu tố Tây phương thì sẽ được coi là “trẻ trung, sôi động, thời đại”. Có đến nghìn lẻ một dẫn chứng cho hiện tượng này, đến nỗi, phải mất rất nhiều năm, chính bản thân người viết bài này mới ngộ ra được cái gọi là “bản lĩnh văn hóa dân tộc” là gì. Có rất nhiều việc, tưởng chừng như thật đơn giản, song cũng phải có thái độ tranh đấu thực sự mới mong bảo vệ được các giá trị văn hóa cổ truyền dân tộc ngay trong chính bản thân. Giả sử nếu hiểu được cái váy đầm “tân thời” kia thực ra vốn là trang phục cổ truyền của Tây phương, đã thịnh hành từ nhiều thế kỷ trước… thì có lẽ nhiều người phải giật mình nghĩ lại (dù chưa chắc dám thay đổi nếp nghĩ), rằng dàn nhạc giao hưởng cùng với kho tàng âm nhạc cổ điển phương Tây cũng chính là một trong những di sản âm nhạc cổ truyền của họ.

Tôi tin sẽ có một ngày, trong lĩnh vực văn hóa (xin nhấn mạnh điều này), chúng ta sẽ cùng nhìn nhận lại tính hai mặt của sự giao lưu, tiếp biến thời đầu thế kỷ XX. Chẳng hạn như tác động của phong trào Duy Tân, mà từ đó, mái tóc dài của đàn ông Việt Nam được thay thế bằng mái tóc ngắn, rồi sự lên ngôi của Âu phục, trở thành chuẩn văn minh lịch sự, nhiều tiêu chí đẹp – xấu, hay – dở đã được thiết lập lại “trật tự”… Hệ thống thẩm mỹ truyền thống dân tộc đã được “di dời một thời” như vậy!
Diễn giải dài dòng thế để thấy được cái nhìn toàn cảnh và xu thế thời đại của một trường đoạn lịch sử. Văn hóa dân tộc Việt Nam không thể thoát khỏi sự chi phối lớn bởi bước chuyển mình của thời cuộc. Hà tất phải bàn đến sự sinh tồn của các chân giá trị, nhất là các giá trị văn hóa nghệ thuật dân gian, vốn chỉ được lưu truyền trong lòng dân gian như nó! Điều đó có nghĩa, từ toàn bộ đến từng phần của văn hóa dân tộc Việt Nam, cái sự “nước nổi bèo trôi”, “sóng cả ngã chèo” là điều không thể tránh khỏi.
Thật may mắn là, cùng với quá trình hội nhập toàn cầu đang diễn ra ngày càng toàn diện với tốc độ chóng mặt của thời đại bùng nổ thông tin, chúng ta đã dần nhận thức đúng vấn đề. Sự bảo lưu các giá trị mang tính bản sắc trong công cuộc toàn cầu hóa đã được UNESCO đề cao hơn bao giờ hết. Đa dạng hóa văn hóa được nêu rõ như một tôn chỉ mang tính quốc tế. Nguy cơ bản sắc dân tộc bị triệt tiêu bởi sự hòa đồng được cảnh báo không chỉ trong nước mà còn từ các thông điệp của bè bạn năm châu. Và, công cuộc phục hưng văn hóa dân tộc ngày càng có những chuyển biến rõ rệt với tính tích cực vượt bậc so với mấy chục năm về trước. Giờ đây, những người hết lòng với văn hóa cổ truyền Việt Nam nói chung, văn hóa dân gian Việt Nam nói riêng, đã có cơ sở để hy vọng vào một ngày mai xán lạn.
Văn hóa vốn bình đẳng. Giao lưu văn hóa, tiếp thu các giá trị bên ngoài là điều hoàn toàn nên làm, nhưng hãy để bản ngã văn hóa dân tộc trường tồn. Nhưng tại sao trên thực tế, nhiệm vụ đó dường như vẫn chỉ là một khẩu hiệu được hô to mà thôi?! Đã có khá nhiều ý kiến “đồng thanh tương ứng” cho rằng, sự thất truyền của nhiều chân giá trị là điều… tất yếu! Người ta còn khẳng định, trong sự phát triển, có “sinh” thì phải có “diệt”. Thiết nghĩ, đó là sự áp dụng thô bạo thuyết tiến hóa vào văn hóa nghệ thuật!

Ở đây, tôi cho rằng THỜI ĐẠI hay cái gọi là – HƠI THỞ THỜI ĐẠI là các khái niệm hết sức trừu tượng. Một “thời đại” như thế nào sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của từng thế hệ. Nói nôm na là con người như thế nào thì sẽ tạo ra thời đại tương ứng. Thế nên THỜI ĐẠI không phải là cái TẤT YẾU, mang tính QUY LUẬT BẤT BIẾN mà hoàn toàn có thể tác động, thay đổi. Trong việc giáo dục bản lĩnh văn hóa dân tộc, nếu cứ lấy số đông khán giả thời đại làm “khuôn vàng thước ngọc” thì hẳn không còn gì phải bàn nữa, cứ thế mà buông xuôi trong cơn lốc hội nhập, hết chuyện!

THAY LỜI KẾT
Anh hô hào bảo tồn, tôi hô hào bảo tồn. Nhưng anh vẫn chỉ thích nghe Beethoven, Mozart và cho con anh đi học piano, violon cho sang. Còn tôi chỉ thích nghe nhạc pop, rock. Con tôi khi nghe nhạc dân tộc cải biên lại cứ tưởng là chèo cổ. Tôi và anh đều tán thành việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Song bảo tồn cái gì và bảo tồn như thế nào? Đó là chuyện của người khác, là chuyện của Nhà nước. Tôi và anh không cần quan tâm. Văn hóa nói chung, nghệ thuật nói riêng là sở thích cá nhân. Chúng ta không thích nghe Ca trù, Tuồng, Chèo, Ca Huế… cũng chả phương hại gì. Váy đầm hở vai dù là trang phục cổ truyền của Tây phương từ thế kỷ 16, cũng như com-lê có từ thế kỷ 18, nhưng không sao! “Cũ người mới ta”. Và tôi vẫn thích các con tôi mặc trong ngày cưới bởi trông nó rất hiện đại. Từ thành thị đến nông thôn Việt Nam, toàn dân ta vẫn thích com-lê, váy đầm đấy thôi. Mặc áo the khăn xếp hay áo tứ thân trông cổ hủ lắm, rồi mọi người lại chê cười. Nhân cách văn hóa dân tộc ư? Cái gì ta sử dụng mà chả là của ta. Chúng ta chính là thời đại, chúng ta chính là nhân cách văn hóa mới của dân tộc. Người ta chẳng đã khẳng định là có ông nghệ sĩ nhân dân của ta chơi nhạc Chopin mà vẫn thể hiện được tâm hồn Việt Nam kia mà!
-----------
1 Tháng 8/2002, nhân dịp gặp GS Tô Vũ tại hội thảo về Nhã nhạc cung đình Huế, trong một đêm dốc bầu tâm sự, tôi chia sẻ quan điểm này với vị học giả đáng kính. Ông rất tán thành quan điểm của tôi và cho biết, trong Nam cũng có một học giả có cùng quan điểm này. Nói thế để khắng định tôi không phải là người đầu tiên và duy nhất có ý kiến như vậy.

Bùi Trọng Hiển
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=105&News=2906&CategoryID=34

Chủ Nhật, 23 tháng 11, 2008

“Đại phẫu” cải lương: Khán giả ngày xưa còn đâu?


Bài viết đề cập về 1 vấn đề mà mình bức xúc từ lâu thói vô kỷ luật của người dân Việt Nam, thực ra, không chỉ khán giả bình dân mà cả những người tự xưng là trí thức cũng thế

Đọc hồi ký của nhà báo Trần Tấn Quốc để biết được một chi tiết thú vị, mỗi khi ông đi xem hát, ông đều vận một bộ complete thật trang trọng, dù đó là buổi chiêu đãi ký giả vào thời điểm buổi trưa nắng hay buổi tối mùa hè oi bức đến nóng rang người, ông vẫn xuất hiện đường hoàng như thế. Nhiều NS hỏi vì sao? ông cười trả lời: "Tôi tự trọng tôi trước khi đòi hỏi người khác tôn trọng mình. Trên sân khấu các bạn diễn, bên dưới khán phòng tôi ngồi xem, thái độ tôn trọng của người xem sẽ làm tăng thêm hưng phấn biểu diễn của các bạn. Do vậy mà tôi luôn đến rạp với sự trang trọng đúng theo nguyên tắc của riêng tôi"

Nhắc lại câu chuyện trên của nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc - cha đẻ của giải thưởng Thanh Tâm từ năm 1958 đến 1968 để thấy giá trị của một bộ phận cấu thành đêm diễn đang bị bào mòn bởi sự dễ dãi. Ai cũng biết một vở diễn nếu không có sự hiện diện của khán giả thì xem như suất hát đó thất bại. Tác phong người xem nhiều năm qua đã phần nào ''xuống cấp'' theo sự suy yếu về mặt chất lượng nghệ thuật mà chúng ta đã mổ xẻ trên các số báo trước. Tôi có một anh bạn sống ở Hàn Quốc 12 năm, khi vào xem cải lương tại rạp Hưng Đạo đã ngạc nhiên khi nghe Ban tổ chức yêu cầu không sử dụng điện thoại di động, không ăn quà vặt, không quay máy camera cá nhân, không tặng hoa trong lúc các nghệ sĩ đang biểu diễn và không kèm trẻ em dưới tuổi. Thế nhưng khán phòng vẫn nhan nhản những điều mà Ban tổ chức đã đề nghị. Bên cạnh anh bạn tôi vẫn có hai chị khán giả hồn nhiên ăn khô mực, bắp nấu, phía trên có một anh hút thuốc, phía dưới có một cậu bé hồn nhiên nghe điện thoại, hét lớn lên để người bên kia nghe được giọng nói của mình. Than ôi lại còn có những đóa hoa bất chấp diễn viên đang diễn vẫn được đưa lên sân khấu một cách thản nhiên và rồi máy quay phim cá nhân, máy điện thoại có chế độ ghi hình vẫn hoạt động đều đặn. Bạn tôi đã liếc nhìn anh bảo vệ đang đứng cuối khán phòng, nhưng anh vẫn thản nhiên nói cười với cô bạn gái, chẳng quan tâm gì đến sự việc chung quanh. ở Hàn Quốc và các nước tiên tiến, những quy định trên được ghi cụ thể phía sau vé. Nhân viên bảo vệ khán phòng sẵn sang mời khán giả nào vi phạm ra khỏi rạp để không làm ảnh hưởng đến người chung quanh. Còn ở Việt Nam, dù có in trên vé những dòng nội dung cụ thể, chi tiết nhưng những hiện tượng này vẫn lập đi, lập lại một cách thường nhật. Ở Thái Lan, khi vào rạp xem nghệ thuật múa, du khách mặc quần đùi hoặc áo thun ba lỗ, lập tức được nhân viên soát vé mời về nhà thay trang phục hoặc những gói bánh, bịch kẹo lỡ mua vẫn được niêm yết bên ngoài, chờ sau suất diễn gửi lại khán giả.

--->>> rạp hát không bắt buột khán giả thực hiện nên họ không tôn trọng nội quy

Trong hồi ký của nhà báo Trần Tấn Quốc, ông phân tích rất rõ hiện tượng khán giả đến rạp vào cuối tuần hoặc các ngày thứ trong tuần đều chứng tỏ trình độ văn hóa nhất định. Nếu đi nhà thờ người ta ăn mặc thật đẹp để bày tỏ tấm lòng tôn kính thì đến rạp hát với áo dài (phụ nữ), com- plete cà-ra-vát (nam giới) là để thể hiện trình độ văn minh nơi công cộng. Khán giả sân khấu cải lương ngày xưa đa phần là trí thức với nhiều ngành nghề như: bác sĩ kỹ sư, nhà giáo, công chức... Ngay cả hàng vé ''cá kèo'' trên lầu hoặc những vé cánh gà, người lao động thời đó đến rạp vẫn ăn mặc lịch sự, không quá ''mát mẻ'' như ngày nay và thái độ xem nghệ thuật cũng hết sức trọng thị.

---->>> 1 số người ăn mặc lịch sự nhưng hành vi chưa đúng, không tôn trọng kỷ luật nơi công cộng

Phải chăng đã xuất hiện sự kỳ thị?

Bên cạnh những vấn đề mà chúng ta đã mổ xẻ nhiều số báo liên tiếp, trình độ khán giả phản ảnh thực tế một đêm diễn. Có nghệ sĩ cho rằng ''môi trường quyết định hành vi''. Cải lương khi xuất hiện trên sân khấu Nhà hát TP qua các chương trình: Tự Tình quê hương, Cội nguồn Việt, Liveshow show Lệ thủy,ThanhThanhTâm,Thanh Sang, Thanh tuấn, Vũ Luân, Quế trân,... đã phần nào phản ảnh sự trang trọng, lịch lãm và khán phòng bao giờ cũng ấm áp sự trân trọng của người xem. Bởi, nhân viên Nhà hát TP khét tiếng là khó tính, khi trong khán phòng có tiếng trẻ em khóc hoặc tiếng chuông điện thoại, thì những tà áo dài nhã nhặn đến tận nơi yêu cầu khắc phục ngay tình trạng làm ảnh hưởng đến suất diễn. Nội dung ở nơi công cộng được đặt ra phải được kiểm tra và bảo đảm tính khả thi như thế mới góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ nơi người xem thông qua một suất diễn.

--->>> phải nghiêm chỉnh như vậy mới đúng

Một số khán giả đã bày tỏ thái độ khi đến xem các chương trình nghệ thuật cải lương tại rạp Hưng Đạo khi mà sự ồn ào, mất trật tự của một số khán giả đã khiến những người có nhu cầu chính đáng đến rạp thướng thức nghệ thuật cảm thấy ái ngại. Một cô khán giả gặp chúng tôi đã phản ảnh: ''Tôi ngồi ở hàng ghế số 7 dưới nhà, ngay mép lan can của dãy ghế hang A trên lầu, đang xem ngon lành tự dưng có người nhổ nước bọt xuống đầu mình. Thật là khó chịu biết bao''. Hoặc một số khán giả là lan của nghệ sĩ A, hùa nhau ghét nghệ sĩ, chỉ muốn nghệ sĩ hát với nghệ sĩ C, thế là suốt suất diễn cứ ngồi nói xấu nghệ sĩ, mặc những người chung quanh bị tra tấn''. Khâu trật tự kiểm tra của rạp hát nếu quá yếu sẽ gây ảnh hưởng xấu đến suất diễn và làm những khán giả yêu thích cải lương tự dưng phai nhạt dần niềm đam mê của mình vì họ không được tôn trọng lúc xem nghệ thuật. Tôi chưa dám khẳng định đó là sự kỳ thị của đối tượng khán giả sang trọng đối với khan giả bình dân, vì tiền nào của nấy, vì loại sản phẩm nào thì bao bì và khâu tiếp thị khác nhau. Nhưng nói như thế vẫn chưa công bằng với sàn diễn cải lương, vì bộ môn này sinh ra và lớn lên từ quần chúng, nên nó gần gũi với người lao động, phù hợp với mọi tầng lớp nhân dân. Song, không phải cứ nghèo là hèn, túng thiếu là kém tử tế, mà cải lương phải thực sự góp phần nâng cao nhận thức và làm đẹp cho cuộc sống.

Đổ lỗi cho khán giả là việc làm không phải trong cuộc đại phẫu này, nhưng qua đây để khẳng định một thực tế cần phải nhìn thấy một cách thấu đáo, đó là mọi khâu tổ chức biểu diễn, tiếp thị và chăm sóc khách hàng của sàn diễn cải lương chưa đủ tiêu chuẩn để tồn tại trong thời hội nhập. Tôi cho rằng sân khấu ca nhạc, thời trang, kịch nói đã làm được từng bước sự tiếp thị và chăm sóc khách hàng hết sức khoa học. Chỉ cần một tấm bướm được in sạch đẹp gửi qua đường bưu điện, hoặc một tin nhắn đến những số máy của khan giả yêu cải lương, sẽ là dịp để người xem cảm thấy họ có sự đồng cảm từ nhà tổ chức.

Xem ra trước nhu cầu cần thiết để cùng xây dựng bộ mặt sân khấu sàn diễn cải lương ngày càng văn minh, tiên tiến, chúng ta còn phải đối diện với nhiều khó khăn mà trước mắt là hình thành ý thức từ phía cộng đồng cũng như từ phía văn nghệ sĩ, nhà tổ chức.

Nhà báo lão thành Trần Tấn Quốc đã viết: ''Muốn trách người ắt hãy trách ta trước''. (Tiên trách kỷ hậu trách nhân) Vâng, trong việc góp phần nâng cao giá trị thẩm mỹ trong thưởng thức nghệ thuật, trả đúng uy quyền của chiếc ngai vàng mà thượng đế (người tiêu dùng) đang sở hữu chúng ta - những nhà tổ chức và nghệ sĩ đã có lỗi một phần.

Nguyễn Văn Khánh

ngocanh (Theo Báo sân khấu)

http://www.cailuongvietnam.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=4744


GS Tran Van Khe noi chuyen dau Xuan 08-02-2008.wmv




Câu chuyện về những tập tục vào ngày Tết cổ truyền được GS Trần Văn Khê miêu tả thật sinh động

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2008

Con không có lời ru - Nghĩa trang đồng nhi TP Pleiku


Nhìn hơn 1 vạn ngôi mộ nhỏ xíu nằm san sát nhau lạnh lẽo dưới những tia nắng cuối ngày của phố núi, tôi cứ ước ao giá như những bậc cha mẹ trước khi dứt bỏ con mình đều nghe được lời ai oán của các sinh linh bé bỏng...

Hài nhi mang tên Trung Thu

Con đường dẫn vào nghĩa trang đồng nhi TP Pleiku (Gia Lai) lởm chởm đá. Hai bên vệ đường, những đống gạch cát nằm ngổn ngang. Một người đàn ông trạc 50 tuổi, cao lớn, đầu trần, khoanh tay trước ngực, mắt hướng về nghĩa trang đồng nhi với vẻ mặt đăm chiêu, bên cạnh là một thanh niên da đen sạm và một bà già hom hem.

Đó là linh mục Nguyễn Văn Đông ở nhà thờ Đức An, TP Pleiku, người khai sinh ra nghĩa trang đồng nhi; người thanh niên tên Phụng, làm thợ xây, chuyên đi lượm những hài nhi bị cha mẹ vứt bỏ; bà Lê Thị Tâm, người hương khói cho những sinh linh trẻ vô danh. Bóng ba con người chụm vào nhau chập chờn, nhảy múa dưới cái nắng hiu hắt của núi rừng Tây Nguyên. Họ đang bàn tính việc tu sửa và vệ sinh những ngôi mộ để kỷ niệm nghĩa trang tròn 4 tuổi.

Đúng ra, nghĩa trang này được hình thành năm 1992, nhưng nó thực sự gây xúc động từ khi xuất hiện một hài nhi có tên là Trung Thu. Anh Phụng kể rằng, Trung thu năm 2004, người ta mang về nơi linh mục Đông một bọc ni lông khá lớn, mở ra thì thấy một bào thai - em bé đã đầy đủ hình hài. Vị linh mục nhẹ nhàng dùng tay đỡ em ra đặt trên một tờ báo. Thật bất ngờ, hài nhi đưa tay bấu chặt lấy ngón tay của linh mục - động tác đầu tiên và cuối cùng của em trên cõi đời này...

Sau đó, linh mục đưa em về nghĩa trang đồng nhi, nơi an nghỉ của hàng ngàn hài nhi có hoàn cảnh tương tự mà ông đã chôn cất. Linh mục đặt tên cho em là Trung Thu. Một người chứng kiến cảnh tượng đó đã thay em viết những lời kêu than:

“Con không có lời ru

Đưa con vào cuộc đời

Để con được làm người

Xin thắp lên cho con một ngọn nến

Một nén nhang”;

rồi thống thiết van xin:

“Nơi mộ vắng nghĩa địa buồn

Xin hãy thương con, đừng bỏ con

Con tội tình gì? Mẹ ơi, cha ơi!”...

Những người cứu rỗi

Khi đã hướng dẫn công việc cho người thợ xây, linh mục Đông trở về nhà thờ. Anh Phụng dẫn chúng tôi vào nơi thờ chung của những sinh linh xấu số. Bàn thờ lúc nào cũng khói hương nghi ngút và đầy hoa tươi. Trên bàn thờ được khắc dòng chữ rất lớn: “Chúng con tha thứ cho cha mẹ”.

Bên phải bàn thờ là những lời viết cho bé Trung Thu, bên trái là bài thơ của một người đến viếng nghĩa trang vào ngày Quốc tế thiếu nhi, trong đó có đoạn:

“Con ra đời – Dù không hoan hỉ

Bỏ con nơi bố thí, viện tế bần

Dù cùng cực sống khốn khổ bần dân

Con muốn sống muôn ngàn lần hơn chết!”.

Hai bên hàng rào của bàn thờ là dãy hoa huynh đệ vàng rực và phía trên cùng là hai cây xương rồng lớn, trên lá thân chi chít chữ. Anh Phụng bảo đó là những lời day dứt của những người mẹ lỡ bỏ con, là lời cầu xin tha thứ, lời cầu cho được bình yên... của khách viếng nghĩa trang.

Theo chỉ dẫn của anh Phụng, tôi đi một vòng quanh nghĩa trang. Hơn một vạn ngôi mộ hài nhi vô danh nằm san sát nhau. Có những ngôi mộ được xây chắc chắn, quét sơn sáng sủa, nhưng cũng có những ngôi mộ chỉ là nắm đất đơn sơ, lạnh lẽo. Anh Phụng giải thích rằng, những mộ được xây là có người thân, nhưng con số này rất ít ỏi, còn lại là của các nhà hảo tâm cho tiền xây cất. Anh chỉ cho chúng tôi xem hai ngôi mộ nhỏ mà anh vừa mới chôn hôm qua.

Anh kể, sáng sớm ra nghĩa trang làm việc như thường lệ, anh thấy hai bọc ni–lông màu đen vướng lủng lẳng trên đọt cây xương rồng bên vệ đường. Quá quen thuộc với những cảnh tượng như thế, anh biết ngay đó là những hài nhi xấu số bị vứt bỏ đêm qua.

Anh nhẹ nhàng gỡ xuống, dùng rượu rửa những vùng thân thể còn sót lại rồi đi mua quan tài về khâm liệm và chôn cất hai bé. Hai nấm mồ nằm kề nhau, nén nhang đêm qua chưa kịp cháy hết đã tàn dưới làn sương đêm lạnh lẽo của phố núi, cành hoa cúc cắm vội trên hai nấm mồ cũng héo rũ. Gió thổi hiu hiu, nắm tro dưới lớp cỏ xanh bay là là xung quanh nghĩa địa... khiến nơi đây càng trở nên u tịch.

Anh Phụng kể lại, 4 năm về trước, có ngày anh lượm cả chục bào thai bị phá bỏ. Có lần anh mở bọc ni–lông ra và vô cùng hoảng hốt và căm hận. Bên trong là một em bé tứ chi đã cứng cáp, anh bế lên, ước chừng nặng 4,5 kg. Anh khóc gào lên một cách uất hận, nện nắm đấm xuống đất để kìm nén cơn xúc động, rồi gạt nước mắt lặng lẽ khâm liệm cho bé, vừa làm vừa thầm thì mong em hãy tha thứ cho cha mẹ...

Hỏi anh Phụng một chút về bản thân, nhưng anh không tiết lộ, chỉ nói ở đây có nhiều người làm việc này lắm. Trước anh có ông Sáu, bây giờ có bà Tâm và nhiều người nữa mà anh chưa biết đến. Nghe nhắc đến tên mình, bà Tâm đang ngồi nhổ cỏ trước một ngôi mộ ngẩng đầu lên. Năm nay bà 71 tuổi, nhưng bảo là chân còn khỏe lắm, tay còn nhanh lắm.

Hằng ngày, không kể mưa hay nắng, bà đi xe đạp, chở can nước ra nghĩa trang để làm việc. Những ngày nắng thì bà cọ rong rêu, nhổ cỏ trên mộ, quét lối đi vào nghĩa trang, lau bàn thờ, lo hương khói và canh cho đàn dê không vào ăn hoa, phá mộ. Còn ngày mưa thì bà vào ngồi trò chuyện với mấy cháu cho ấm áp.

Lời ước từ phố núi

Bà Tâm mới đến với nghĩa trang đồng nhi từ năm ngoái và từ đó đến nay, bà bảo không đêm nào yên giấc được. Trải qua cuộc đời làm mẹ, rồi giờ làm bà, bà Tâm đã ẵm trên tay hai thế hệ trẻ thơ, với bà đó là những thiên thần mà tạo hóa ban tặng.

Giờ phải chứng kiến những em bé bị tước mất quyền làm người, bà vô cùng xót xa. Thấy nghĩa địa trống vắng, các nấm mồ lạnh lẽo, cô đơn, bà chạnh lòng và tự nguyện vào hương khói. Hằng ngày, vào buổi sáng trước khi làm việc, bà đi khắp nghĩa địa tuần tự thắp hương một lượt và buổi chiều, trước khi về, bà thắp một lượt nữa.

Khuôn mặt nhăn nheo, miệng đã bắt đầu móm mém, nhưng những giọt nước mắt hiếm hoi vẫn lăn dài trên gò má bà Tâm khi chúng tôi hỏi về thân phận những hài nhi ở nghĩa trang. Bà bảo là không thể tưởng tượng nổi đời mình lại phải chứng kiến những thảm họa thế này.

Những buổi sáng ra nghĩa trang, thấy anh Phụng hoặc ai đó đang loay hoay đào huyệt là tim bà lại nhói lên. Bà cứ thắc mắc không hiểu tuổi trẻ bây giờ suy nghĩ như thế nào mà dễ dàng chối bỏ máu mủ của họ như thế. Bà biết sẽ có người ân hận. Bằng chứng là hằng ngày ở đây, bà vẫn thấy nhiều cô gái trẻ tới viếng nghĩa trang. Họ khóc lả đi trước một nấm mồ vô danh nào đó, và khi có người bắt gặp thì vội ngoảnh mặt, lẳng lặng lẻn đi.

Chiều tím sẫm, những tia nắng cuối ngày trên phố núi càng làm không khí nghĩa trang đồng nhi hiu hắt, buồn lạnh... Nhìn những ngôi mộ nhỏ bé sắp hàng san sát trong nghĩa trang, tôi không khỏi rùng mình nghĩ đến nơi phố thị, không ít cô gái đang vào các phòng kế hoạch hóa gia đình để nhẹ nhàng dứt bỏ mầm sống trong cơ thể, coi đó là một điều bình thường...

Giá như một lần họ tới các nghĩa trang đồng nhi, như ở phố núi này, biết đâu họ nghe thấu lời ai oán của những sinh linh bị tước đi quyền sống; và biết đâu qua đó tình trạng nạo phá thai mà lâu nay dư luận lên tiếng cảnh báo sẽ giảm đi...

Phóng sự của Bảo Thiên

09/11/2008

http://www.thanhnien.com.vn/News/Pages/200845/20081109222458.aspx

Đau xé lòng khi đọc bài báo này


Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2008

GS TS Trần Văn Khê "Giá trị của chữ "Nhà" trong đời sống người Việt"

Rating:★★★★★
Category:Other
GS.TS Trần Văn Khê và những điều chưa bao giờ kể

GS.TS Trần Văn Khê là nhà nghiên cứu âm nhạc truyền thống làm vinh danh nước Việt, một nhà văn hóa lớn, một bậc thầy về âm nhạc dân tộc của Việt Nam và thế giới. Mỗi lần gặp gỡ, mỗi cuộc trò chuyện với GS.TS Trần Văn Khê bao giờ cũng hết sức thú vị bởi ở ông, ngoài kiến thức uyên bác, sự thông tuệ mà hóm hỉnh, ta luôn cảm nhận được tâm huyết và ân tình sâu nặng của ông đối với âm nhạc truyền thống, với quê hương, đất nước.

Trở về nước hơn 2 năm qua, GS sống trong một ngôi nhà xinh đẹp, ấm cúng tai Q.Bình Thạnh TP HCM và trong tình yêu thương, trân trọng của bạn bè, học trò cùng những người xung quanh. Ông vẫn say mê làm việc, cống hiến công sức của mình cho âm nhạc truyền thống của dân tộc.

SSM đến thăm GS và được nghe ông chia sẻ một đề tài thú vị "Gíá trị của chữ "Nhà" trong đời sống người Việt". Từ vốn kiến thức uyên thâm, cách trò chuyện hấp dẫn và cả những trải nghiệm của bản thân, GS đã mang đến một cuộc trò chuyện thân tình, thú vị và sâu sắc. GS muốn nhắn nhủ : Dù chúng ta là ai, làm gì, sống trong hoàn cảnh nào thì ngôi nhà vẫn là nơi chốn bình yên nhất, ấm áp nhất, hạnh phúc nhất để ta quay về. Vậy chúng ta hãy yêu nó nhiều hơn và dành cho nó những điều tốt đẹp nhất.

Đỗ Mạnh Hùng - 07/11/2008

Xem Video chương trình

http://www.sucsongmoi.com.vn/khachmoi-giaitri/Gapgonguoinoitieng/gststranvankhe/SSMTVShow_view

Chủ Nhật, 12 tháng 10, 2008

Ngẫm về đặc trưng văn hóa các nước




Ngẫm về đặc trưng văn hóa các nước

Tác giả: Nguyễn Tất Thịnh
Chủ tịch HĐQT Cty C.Doc

Đây là những suy ngẫm hết sức thú vị của tác giả về đặc trưng tiêu biểu cho văn hóa của một số dân tộc trên thế giới...

http://chungta.com/Desktop.aspx/ChungTa-SuyNgam/Van-Hoa/Ngam_ve_dac_trung_van_hoa_cac_nuoc/

Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

Nghèo + Văn hóa vùng miền = Liều mạng lấy chồng... Hàn Quốc ?

Trích bài phỏng vấn trong loạt phóng sự "Những cô dâu không thể… chạy trốn" về những cô gái lấy chồng Hàn Quốc, Đài Loan,...

GS VS Trần Ngọc Thêm nói về văn hóa phương Nam

Ông cho biết: "Trước hết, tôi phải khẳng định ngay rằng đúng là miền Tây Nam Bộ có điều kiện thuận lợi, thiên nhiên ưu đãi nhất nước, nhưng để từ đó suy ra rằng cuộc sống của người dân ở đây sung sướng nhất nước thì điều đó đã trở thành quá khứ. Đó là thời của văn hóa Nông nghiệp. Còn hiện nay, thời đại của công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì những ưu đãi của thiên nhiên không phải là tất cả.
[.............]

Cũng phải nói thẳng rằng, trình độ dân trí của người dân nơi đây còn thấp. Lý do đơn giản là trước kia họ luôn bằng lòng với cuộc sống hiện tại nên không thấy cần học hành cao, không cần đỗ đạt cao. Ở đây, những gia đình có con học lên đến cấp 3 (phổ thông trung học) là đã hài lòng lắm rồi. Số chịu khó vươn lên học tới đại học hoặc cao hơn thì rất ít. Trình độ dân trí thấp, cuộc sống quen đơn giản, nên việc họ suy nghĩ đơn giản, ít đắn đo cân nhắc trước sau là chuyện dễ hiểu.

Trong khi đó, con cái đều có phẩm chất của văn hoá truyền thống Việt Nam là yêu thương, hiếu thảo với cha mẹ. Thấy ba má nghèo, muốn giúp đỡ. Nhiều cô gái chọn cách lấy chồng ngoại để có tiền giúp bố mẹ, để bố mẹ mở mày mở mặt với chòm xóm. Ý định, mong muốn này của các cô gái khi thể hiện ra lại được bố mẹ chấp thuận dễ dàng. Bố mẹ và con cái gặp nhau ở cùng một kiểu suy nghĩ. Nhiều người như thế, nhiều gia đình như thế tạo nên một bối cảnh văn hoá hoàn toàn khác hẳn với miền Bắc và miền Trung, nơi mà con người bị bị tác động rất nhiều bởi dư luận xã hội, mà dư luận xã hội thì rất chặt chẽ, khắt khe.

[....................]

Tóm lại, nghèo, trình độ văn hóa thấp cùng bối cảnh văn hóa vùng là những nguyên nhân sâu xa khiến cho con gái miền Tây lấy chồng ngoại qua các công ty môi giới hôn nhân nhiều đến vậy, nhiều nhất cả nước."

Phóng viên (PV): Như vậy, người miền Tây, đặc biệt là phụ nữ quan niệm như thế nào về tình yêu, hôn nhân và gia đình ạ?

GS.TSKH Trần Ngọc Thêm (TNT): Như đã nói, người miền Tây Nam Bộ thường quan niệm, nhìn nhận mọi vấn đề khá đơn giản. Tâm lý này bắt nguồn từ việc thời xưa họ được thiên nhiên rất ưu đãi. Phụ nữ miền Tây quan niệm về tình yêu, hôn nhân và gia đình có khác so với phụ nữ miền Bắc và miền Trung. Ở miền Bắc và miền Trung, vai trò của người phụ nữ trong gia đình tương đối lớn, tương đối bình đẳng hơn trong quan hệ với nam giới. Nếu người chồng lo việc xã hội, việc nước thì người vợ là nội tướng trong gia đình, một tay quán xuyến tất cả mọi việc tề gia nội trợ. Họ luôn có ý thức chăm lo, vun vén cho gia đình, từ việc cắt đặt việc nhà đến việc nuôi dạy, giáo dục con cái… Đồng thời, họ cũng đòi hỏi khá nhiều phẩm chất ở người chồng như tu chí làm ăn, công danh sự nghiệp sáng láng… Phụ nữ miền Tây thì dễ dãi hơn. Họ rất chiều chuộng chồng, dễ dàng chấp nhận chuyện chồng nhậu nhẹt, say xỉn, thậm chí đánh đập mình. Trong khi đó, họ cũng ít lo vun vén cho gia đình như phụ nữ miền Trung, miền Bắc. Chồng mang bao nhiêu tiền về là xài hết bấy nhiêu, trưng diện cho bản thân trong khi nhà cửa có thể vẫn dột nát. Đối với con cái, cách giáo dục của họ cũng dễ dãi hơn rất nhiều. Con cái muốn học đến đâu thì học, không định hướng, không ép buộc…

PV: Tâm lý này, quan niệm này liệu có thể lý giải thêm một thực tế cũng rất nhức nhối ở nhiều tỉnh miền Tây là bên cạnh hiện tượng con gái lấy chồng ngoại nhiều, còn có hiện tượng không ít người vào thành phố làm gái mại dâm, thưa giáo sư?

TNT: Đúng là từ tâm lý dễ dãi ấy đã sinh ra một quan niệm dễ dãi là cứ nghề gì kiếm ra tiền, có lợi thì làm. Tuy vậy, chỉ một lý do đó thôi thì chưa đủ. Lý giải thực tế này còn phải nói đến quan niệm về vấn đề trinh tiết của người phụ nữ.

Khái niệm trinh tiết chỉ hình thành khi chế độ sở hữu xuất hiện. Trong xã hội phụ quyền, người đàn ông coi vợ là một vật sở hữu – giống như tài sản – của mình, vì vậy trinh tiết được chọn làm một dấu hiệu của sự sở hữu đó. Xã hội nào phân hóa sớm thì quan niệm đó xuất hiện sớm. Nền văn hóa nào coi đàn ông là tối thượng thì quan niệm đó là quan trọng. Còn nơi nào ý thức sở hữu không mạnh, ảnh hưởng văn hóa bên ngoài đến chậm thì quan niệm về chữ trinh cũng nhẹ nhàng hơn.

Miền Tây Nam Bộ với bối cảnh văn hóa vùng có nhiều điểm riêng biệt chính là một nơi như thế. Thiên nhiên ưu đãi khiến ý thức sở hữu không mạnh. Trong khi miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi Nho giáo với quan niệm nặng nề về chữ trinh, và sự ảnh hưởng này là rộng khắp, phổ biến, đồng đều do đặc điểm sống quần cư trong các làng xóm nhỏ, thì ở miền Tây, đạo Nho chỉ ảnh hưởng trong một bộ phận nhỏ dân cư (là những trí thức gốc Nho giáo). Tầng lớp dân cư còn lại (dân dưới đáy, dân nghèo) ít bị chi phối bởi hệ tư tưởng này. Bên cạnh đó, việc các gia đình sống cách xa nhau (sống trong các bưng biền, chia cách bởi sông ngòi, kênh rạch) khiến cho mối quan hệ trong cộng đồng làng xã lỏng lẻo hơn nhiều so với miền Trung và miền Bắc. Điều đó đồng nghĩa với việc áp lực xã hội không mạnh, dư luận xã hội không khắt khe, khiến cho ngay cả những việc như phụ nữ vào thành phố làm gái mại dâm cũng dễ được chấp nhận hơn.

Xem chi tiết tại http://vietimes.vietnamnet.vn/vn/chuyende/3890/index.viet

1 cách suy nghĩ rất Trần Ngọc Thêm, không hẳn đúng 100% nhưng có vài điểm có thể chấp nhận. Gần đây mình đi phỏng vấn các học sinh giỏi thì nhận ra đúng là những người không biết dạy con cái, chỉ biết chiều chuộng đa phần là người Nam, và kinh tế thấp. Còn người Bắc, biết kiếm tiền, dạy con kỹ... nhưng chỉ là những trường hợp mình đã gặp chỉ là số ít.... mà mình đã thấy bức xúc với kiểu cấm đầu sanh con vô tội vạ của 1 số người

Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2008

Nhà văn Marc Levy sang Việt Nam giao lưu

Start:     Oct 3, '08 08:00a
End:     Oct 9, '08 9:00p
Marc Levy sẽ có chuyến thăm và giao lưu với độc giả Việt Nam từ ngày 3 đến 11 tháng 10.

Chuyến thăm được tổ chức bởi Đại sứ quán Pháp tại Việt Nam, phối hợp với Công ty văn hóa và truyền thông Nhã Nam nhân Ngày hội đọc sách Pháp 2008.

Theo dự kiến, nhà văn Marc Levy sẽ có mặt tại Hà Nội lúc 15 giờ ngày 3.10. Sau đó, ông sẽ tham gia một loạt sự kiện văn hóa như: dự khai mạc Ngày hội đọc sách Pháp và ký tặng sách tại Trung tâm Sách Việt Nam (thuộc Savina, Hà Nội); dự hội thảo, giao lưu tại L’Espace - Trung tâm Văn hóa Pháp tại Hà Nội; gặp gỡ, giao lưu cùng HS-SV và độc giả tại ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội; gặp gỡ tại Viện trao đổi văn hóa Pháp Idecaf, TP.HCM và ký tặng sách tại Nhà sách Nguyễn Huệ, TP.HCM.

Ngày 9.10, tác giả này sẽ gặp gỡ độc giả TP.HCM tại viện Trao đổi văn hóa Pháp - Idecaf - 31 Thái Văn Lung, Q.1.

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2008

Jules Verne

Năm 1865, nhà văn Jules Verne cùng gia đình đến nghỉ ở Crotoy trong hai tháng 8 và 9. Crotoy giờ đây là một thị trấn nhưng hồi đó chỉ là một xóm chài không lớn lắm. Gia đình Jules Verne thuê một ngôi nhà nhỏ hai tầng xinh xắn, ngay cạnh một đường hầm mà cậu con trai của ông đặt tên là "Solitude" (cô độc). Jules Verne có một căn phòng làm việc ở tầng 1, nhưng ông làm việc cả trong đường hầm nói trên.



Ngày 25/7/1865, bạn ông là nhà văn nữ George Sand viết cho ông: "Tôi hy vọng là ở đấy anh sẽ đưa chúng tôi xuống những vùng biển sâu và buộc các nhân vật của anh phải phiêu lưu bằng những con tàu ngầm mà kiến thức và trí tưởng tượng bay bổng của anh chắc chắn sẽ hoàn thiện được". Verne nhận được rất nhiều lời khuyên như vậy ngay từ trước khi ông đến Crotoy. Bởi thế ngay khi đến nơi, ông phác thảo sườn của cuốn tiểu thuyết mà ông đặt tên là Phiêu lưu dưới nước. Nhưng nỗ lực đầu tiên của ông không thành công: ông thiếu tư liệu, hơn nữa nghề viết văn chẳng đem lại cho ông mấy tiền nên ông phải làm thêm các việc khác có thu nhập cao hơn.



Vào năm 1865 ấy, Jules Verne đã 37 tuổi và còn chưa nổi tiếng. Trước đó ông đã sống vài năm ở Paris, miệt mài làm việc, khát khao trở thành nhà viết kịch, nhưng không thành công. Ông quyết định chuyển sang thể loại khác. Năm 1863, ông cho xuất bản cuốn tiểu thuyết Bảy tuần trên khinh khí cầu và bắt đầu được nhiều người biết đến. Mặc dù thu được thành công nhưng để trang trải chi tiêu, ông buộc phải bắt tay vào biên soạn cuốn Địa lý Pháp và các thuộc địa của Pháp qua minh họa. Khi ông cùng gia đình trở lại Crotoy vào năm 1866 thì công trình này vẫn chưa hoàn thành.

Tháng 6/1867, Jules Verne vượt Đại Tây Dương sang Mỹ trên con tàu "Great Eastern", một con tàu biển khổng lồ vào thời ấy. Ông có dịp ngắm nhìn và nghiên cứu biển cả. Sau khi trở về Paris, ông đến thăm triển lãm quốc tế trên quảng trường Mars. Tại đây, ông thích thú quan sát đề án xây dựng kênh đào Suez, công nghệ chế tạo những chiếc tàu ngầm đầu tiên và những bộ đồ lặn đầu tiên. Những kiến thức mới thu lượm được đã giúp ích cho ông rất nhiều và kích thích mạnh mẽ trí tưởng tượng phong phú của ông. Khi quay trở lại Crotoy, ông hăm hở cầm lấy bút. Ông thông báo cho người chủ xuất bản của ông là Pierre Jules Hetzel về ý định quay trở lại với đề tài Cuộc phiêu lưu dưới nước. Lúc này, trong đầu óc ông đã hiện rõ những ý tưởng hết sức cụ thể.



Ông mua một chiếc xuồng máy đánh cá rồi sửa sang lại thành một chiếc tàu nhỏ mà ông đặt tên là "Saint Michel". Với chiếc tàu này ông tin là có thể tiếp cận trực tiếp với biển cả. Trước lúc hạ thủy con tàu, ông viết cho Hetzel: "Tôi say mê khối kết hợp đinh và ván gỗ này như chàng thanh niên 20 tuổi say mê người yêu. Và tôi sẽ còn trung thành hơn với chàng ta nữa".

Jules Verne quanh quẩn hàng tiếng đồng hồ trên con tàu bằng gỗ của mình. Cabin phía sau được ông biến thành phòng làm việc. Tại đây ngổn ngang những cuốn từ điển, những tập sách về kỹ thuật và về nghề hàng hải.

Cũng chính trên con tàu "Saint Michel" này mà Jules Vernes, một người rất mê cuốn Robinson trên hoang đảo và môn địa lý rút cuộc đã có thể tưởng tượng mình là một thuyền trưởng cô độc. Và sự cô độc này đã cổ vũ ông. Nhân vật Nemo ra đời trong hoàn cảnh như vậy. Ông viết cho Hetzel: "Bạn thân mến của tôi. Nếu tôi thành công thì cuốn sách sẽ tuyệt vời biết bao! Tôi đã được thấy bao điều thú vị trên biển, khi tôi rong ruổi trên chiếc "Saint Michel". Mùa thu năm đó ông lại viết cho Hetzel: "Bạn thân mến của tôi. Vào lúc tôi viết những dòng này cho bạn thì tôi đang đứng trước Gravesen và đang hoàn thành tập một cuốn Hai vạn dặm dưới đáy biển. Đến năm 1869 thì ông hoàn thành tập hai.

Từ ngày 20/3/1870, cuốn tiểu thuyết mới của Jules Verne được đăng dần trong Tạp chí Giáo dục và nghỉ ngơi. Ngày 20/7 năm đó, phần cuối của tiểu thuyết ra mắt bạn đọc. Kết thúc phần cuối này là những lời sau đây: "Liệu ai có bao giờ đo được chốn đại dương sâu thẳm? Chỉ hai người duy nhất có quyền trả lời câu hỏi này - đó là Nemo và tôi". "Tôi" ở đây là giáo sư Aronax, người dẫn truyện trong cuốn tiểu thuyết.

Tháng 7/1870, tiết trời rất ấm áp. Jules Verne cùng hai thủy thủ đáp con tàu "Saint Michel" rời Crotoy và đi dọc theo bờ biển Picardie và Normandie cho tới cửa sông Seine rồi tiến về phía Paris. Tại Paris, ông rời con tàu yêu quý của ông và đi đến phố Jacob để bắt chặt tay người bạn Pierre Jules Hetzel của ông. Hiển nhiên đây là những ngày đẹp nhất trong cuộc đời Jules Verne.

Nguồn: Văn nghệ

Thứ Ba, 30 tháng 9, 2008

"Trang điểm giá trị", văn hóa hay căn bệnh?


Hẳn là một người đàn ông tự trọng, bản lĩnh phải muốn được giới thiệu anh ấy là ai, làm gì trong xã hội, chứ không phải là anh rể người đẹp A, hay là họ hàng của ngôi sao B.

Khi xưa, dân gian hay truyền miệng câu thành ngữ: “Thấy người sang bắt quàng làm họ” để nói những người có tâm lý thích dựa hơi những người có chức quyền, vị trí trong xã hội để vụ lợi.

 

Ngày nay cũng có không ít những vị chức quyền có thể “làm sang” cả tỉnh nhờ những dự án hay vị thế của ông mang lại.

Nhưng thời hiện đại cũng có một kiểu “cầu danh” khác chẳng biết lợi hay hại, mục đích và hiệu quả của nó có lẽ chỉ có những người trong cuộc mới có thể diễn giải rành rẽ.

 

Trong những quán nước, buổi nhậu, hay hội thảo diễn đàn, người ta rất hay nghe được những câu giới thiệu kiểu: “Đây là anh Lê Văn A, con của đồng chí Lê Văn B, em của đồng chí Lê Văn C, chồng của chị Trần Thị X…”.

 

Mới nghe ai cũng bồi hồi ngưỡng mộ, đúng là một gia đình danh giá. Thế nhưng sau đó người ta mới chợt nghĩ, đồng chí B và C thành công nổi tiếng là thế, chị X sắc sảo thông minh là thế, sao cái anh A lại chẳng có chút tên tuổi hay thành tích gì nhỉ.

 

Rồi người ta cũng thở phào nhẹ nhõm khi biết được bản thân anh A cũng là giám đốc một doanh nghiệp, một cá nhân xuất sắc. Nhưng khổ nỗi, bản thân vị trí thực của anh nhiều khi bị lãng quên mất, chỉ vì bố anh, anh trai anh, vợ anh được nhiều người biết đến hơn, hay đơn giản, họ ở vị trí được nhiều người xun xoe chăm sóc để hưởng lợi nhiều hơn.

 

Với những người có tự trọng, việc “được” biết đến chỉ vì là chồng vợ của một ai đó là một sự hạ thấp, xúc phạm ghê ghớm. Vô hình trung, những người xung quanh đã biến một con người thực với những giá trị thực của họ thành cái bóng mờ, biến cá nhân xuất sắc thành vật trang điểm của một người khác.

 

Thế nhưng chuyện này vẫn xảy ra hằng ngày, với cả sự vui vẻ hay khổ sở từ những người trong cuộc, vì nhiều lý do khác nhau.

 

Cô ca sĩ trẻ nổi danh từ cuộc thi Sao Mai điểm hẹn 2006 Minh Thư còn luôn được biết đến là… cháu của ca sĩ Lam Trường. Ngộ thế! Là cháu của ai có liên quan gì đến tài năng ca hát không nhỉ? Lỗi không phải của Minh Thư, mà của những người luôn giới thiệu cô như thế.

 

Chuyện này cũng xảy ra với rất nhiều người, bất kể người được giới thiệu có thích hay không. Nó gần như trở thành một kiểu văn hóa của những người liên - quan - đến - người - nổi - tiếng. 

 

Với ai có tự ái cao, văn hóa giới thiệu này là một sự tra tấn. Nhưng để diễn giải sự tự ái của họ thành lời và can ngăn những người bạn đừng tiếp tục quàng cái “vinh hạnh” lên người họ là điều rất khó.

 

Nhiều người phải rơi vào tình thế cười như mếu vì niềm vinh hạnh này. Không chỉ làm mờ giá trị thực con người, mà thành công của người thân còn là áp lực, càng làm sự kém cỏi bất tài của bản thân họ “nổi” hơn mà thôi.

 

Khi được giới thiệu anh này là con ông kia, chả biết có “oai” hơn chút nào, nhưng chắc chắn sẽ có những bình luận kiểu “hổ phụ đẻ mèo tử” hay “cây ngọt mà ra quả đắng”.

 

Với những với người thông minh, sâu sắc, đó là một hình thức giết người không dao. Nhưng với những chàng hợm hĩnh nông cạn, “chiếc nôi vàng” gia đình là giá trị để anh ta lên mặt với xã hội.

 

Có không ít người trong họ thở than: Tôi bị cái bóng của bố tôi, anh tôi, vợ tôi… che khuất, nhưng thực ra áp lực đó là do chính họ tạo ra, và trong thâm tâm họ hẳn rất tự hào làm cái bóng đó.

 

Họ, lúc công khai, lúc ý tứ giới thiệu thanh thế của mình, rằng bạn thân tôi là diễn viên Nguyễn Văn A, bố vợ tôi là ngài Nguyễn Văn C, anh họ tôi là ông Trần Văn Đ…

 

Ơ hay! Nếu với xã hội bản thân anh là con số 0, thì việc anh là anh vợ của ai, em họ của người nào thì có giá trị gì? Hoặc ngay chính giá trị vượt trội của bản thân, họ không trân trọng hoặc nhìn nhận, làm sao trông đợi ở người khác?

 

Một nhà báo đã từng than thở, ông có người bạn rất thân cũng là một tài năng thơ văn báo chí khá sắc sảo. Thế nhưng, buồn một nỗi, đồng nghiệp và độc giả lại thường chỉ biết đến anh ta với vai trò là… con nuôi của một đồng chí lãnh đạo nổi tiếng, là bạn thân của một nhạc sĩ nổi danh, và là em rể của một doanh nhân khá thành đạt trong lĩnh vực bất động sản!

 

Lý do là bản thân vị này sung sướng và hãnh diện với những “vai trò” đó, nên trong các cuộc gặp gỡ anh dành phần lớn thời gian để kể về chuyện con vẹt nhà ông bố nuôi mới nói được câu mới ra sao, ông bạn nhạc sĩ mới có fan hâm mộ tỏ tình như thế nào, hay căng thẳng bình luận chuyện ông anh vợ gặp trục trặc với lô đất mới kiểu gì…

 

Lâu dần, bạn bè đồng nghiệp anh chẳng nhớ nổi công việc thực và tác phẩm của anh nữa. Mỗi khi có người mới xuất hiện, điệp khúc: “Đây là anh A, con nuôi ông B, bạn thân anh C, em rể anh D” được nói đi nói lại. Lâu dần, những gì thuộc về giá trị cá nhân anh còn lại mỗi cái tên.

 

Rất khó gọi tên hiện tượng này là gì, không hẳn là văn hóa mà giống một căn bệnh hơn. Căn bệnh của những người tự ti hay nhầm giá trị, rất tiếc lại khá phổ biến trong xã hội.

 

“Bệnh nhân” của nó bao gồm cả những người lao động chân tay, phu hồ, xe ôm đến những trí thức, nghệ sĩ, doanh nhân; từ những cá nhân mờ nhạt đến xuất chúng trong xã hội.

 

Khổ nỗi, căn bệnh này chỉ có chiều hướng lan ra chứ không giảm nhẹ hoặc được chữa trị, bởi đơn giản, không ai nghĩ đó là bệnh. Nó được coi là văn - hóa - vinh - danh - con - người, nhưng thực ra, hiệu quả hoàn toàn ngược lại!

  • Hoàng Hường
http://vietnamnet.vn/vanhoa/2008/10/806371/

@ Bình loạn:
- Những kẻ dựa hơi ngày càng lắm, mà họ càng giàu, càng nổi tiếng càng dựa hơi, thí dụ như anh chàng doanh nhân thành đạt ở đất Mỹ được bà con trong nước biết đến là "chồng của cô người mẫu diễn viên Trương Ngọc Ánh", chàng ca sĩ tốn tiền du học về quản trị kinh doanh bên Úc rồi về VN lập nghiệp bằng tiền của bà mẹ là 1 nghệ sĩ cải lương nổi tiếng, ... nhiều nhiều lắm
- Ngược lại cũng nhiều người lại vừa giấu đám đông mà khoe đám quan lại rằng ta vốn là con nuôi của vợ ông cố thủ tướng....


GS Nguyễn Văn Tuấn: Thư gửi Bộ Y tế Úc xin viện trợ Vaccine phòng covid

 Ngày 26-7-2021 Hôm nay nhận được một lá thư từ Bộ Y tế Úc, với một chút hi vọng về chuyện vaccine. (xem thư đính kèm email) Các bạn có lẽ c...