Thứ Tư, 21 tháng 3, 2012
GS Trần Văn Khê được trao Giải thưởng Phan Châu Trinh
Thứ Năm, 2 tháng 2, 2012
Mùng 9 đến chúc Tết thầy Trần Văn Khê

Hồ Tá Bang là nhân sĩ yêu nước cận đại, người làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế), sau dời vào cư ngụ ở thị xã Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận (nay là thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận). Cụ sinh năm Ất Hợi 1975, mất vào năm Quý Mùi 1943
Sáu sáng lập viên của trường Dục Thanh: Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lợi, Nguyễn Quý Anh (hàng trên), Nguyễn Hiệt Chi, Trần Lệ Chất, Ngô Văn Nhượng (hàng dưới). (theo wikipedia)
Thời niên thiếu ông theo học khoa cử, thông chữ Quốc ngữ nhưng không thi. Năm Mậu Tuất (1898), ông làm ký lục tại Tòa sứ Phan Thiết, sau đổi về làm ở Tòa sứ Hội An. Ông là người chịu ảnh hưởng tư tưởng nhà duy tân Nguyễn Lộ Trạch từ lúc còn ở quê nhà làng Kế Môn, tỉnh Thừa Thiên-Huế.
Năm Ất Tỵ (1905), ông nhận làm việc tại tòa sứ Phan Thiết, hưởng ứng phong trào Duy tân do Phan Châu Trinh đề xướng. Ông là một trong sáu nhân vật (Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng, Nguyễn Trọng Lội, Nguyễn Quý Anh) chủ chốt của trường Dục Thanh và công ty Liên Thành ở Phan Thiết hồi năm 1905. Phong trào này nhằm phát triển kinh tế, giáo dục để hỗ trợ cho phong trào Cách mạng trên đường Duy tân cứu nước. Khoảng tháng 8-1910, ông cùng Trương Gia Mô đưa Nguyễn Tất Thành sau này là Hồ Chí Minh vào Sài Gòn tìm đường sang Pháp, rồi ông trở ra điều hành trường Dục Thanh và làm “Tổng lý” Công ty Liên Thành gần 30 năm.
Tư cách và đức độ của ông được nhân dân và sĩ phu kính trọng. Con ông là bác sĩ Hồ Tá Khanh cũng là một nhân sĩ, chính khách (hồi năm 1945, bác sĩ Khanh có chân trong nội các Trần Trọng Kim).
Hồ Tá Bang có sáng tác văn chương, thơ văn ông thấm đượm tinh thần yêu nước và cách mạng. Bài Tế thủ tiền lỗ văn (văn tế bọn bo bo giữ tiền) đăng trên báo Lục tỉnh tân văn số ngày 24-3-1908 ở Sài Gòn, tiêu biểu rõ nét tâm trí ông.
Ông mất năm 1943, thọ 69 tuổi, phần mộ tại đồn điền của ông cách thị xã Phan Thiết hơn 10 cây số.
Trước khi mất ông có câu đối khắc ở sinh phần:
Sinh vi nô lệ sinh do tử;
Tử hữu tinh thần tử nhược sinh.
Nghĩa:
Sống làm nô lệ sống như chết
Chết có tinh thần chết như sống.
------------------
Bà Sáu Tường Vân ngày xưa cũng là bạn thân của bà Sương, vợ cũ của Thầy Khê. Cả 2 đều là những nữ sinh học giỏi xuất sắc, theo lời kể của bà Tường Vân : đó là năm đầu tiên học trò trường Nữ học đường được sang học ở Petrus Ký cùng đám con trai. Trong số nữ sinh trong lớp thì chỉ có 2 bà Sương và bà Tường Vân là đậu tú tài toàn phần, những người khác thì rớt hết, ra trường sớm.
Bà Sáu sinh vào năm Canh Thân, 1920, trước Thầy Khê 5 tháng, như vậy năm nay bà đã 93 tuổi. Bà vẫn còn mạnh khỏe, vẫn một mình đi về giữa Pháp và Việt Nam, hằng ngày xách giỏ đi chợ, về nhà tự nấu cơm dọn dẹp.
So với anh trai bà, bác sĩ y khoa Hồ Tá Khanh, từng giữ chức Bộ trưởng Bộ kinh tế trong nội các Trần Trọng Kim thì bà cũng có thành tích không kém. Bà từng là Tổng thủ quỹ Hồng Thập Tự, và cũng là nữ dược sĩ đầu tiên mở nhà thuốc Tây ở chợ Bàn Cờ. Qua Pháp với đôi bàn tay trắng, bà đã xây dựng lại sự nghiệp mới thành công. Trước khi sang Pháp, bà đã cưu mang giúp đỡ tài chánh cho sư thầy Giác Đức chùa Giác Minh ăn học thành tài, đậu tấn sĩ ở Hoa Kỳ.
Hiện nay gia đình bà Sáu Tường Vân thường xuyên trao tặng học bổng cho các cháu học sinh học giỏi, hoàn cảnh khó khăn ở Làng Kế Môn, Huế, Gọi là Hội khuyến học Hồ Tá Bang
------------------
Hồ Tá Khanh (1908 - 1996) là bác sĩ y khoa, từng giữ chức bộ trưởng bộ kinh tế trong nội các Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam vào năm 1945.
Hồ Tá Khanh nguyên quán ở làng Kế Môn, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, (nay là huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên-Huế). Ông sinh ở Phan Thiết năm 1908.
Xuất thân trong gia đình truyền thống Nho học, thân phụ của Hồ Tá Khanh là ông Hồ Tá Bang (1875 - 1943), một nhân vật có đầu óc duy tân, cải cách, Tổng lý công ty Liên Thành. Bố vợ ông là Nguyễn Quý Anh (1883 - 1936), người tổ chức và điều hành Trường Dục Thanh ở Phan Thiết.
Thuở nhỏ Hồ Tá Khanh đi học ở Sài Gòn. Năm 1926, vì tham gia lễ truy điệu chí sĩ Phan Châu Trinh, ông bị đuổi học và sang Pháp. Khoảng năm 1929, Hồ Tá Khanh đỗ tú tài và được nhận vào học ở Đại học Y khoa
Năm 1938, Hồ Tá Khanh về nước mở phòng mạch tư, tham gia các hoạt động chính trị, xã hội tại Sài Gòn trong nhóm các ông Phan Văn Hùm, Nguyễn Văn Sâm, Nguyễn Văn Tạo...
Năm 1942, ông cùng các bạn văn thành lập báo Văn Lang do ông làm chủ nhiệm kiêm chủ bút.
Năm 1945, ông được học giả Trần Trọng Kim, thủ tướng chính quyền Đế quốc Việt
Sau Cách mạng tháng Tám, nội các Trần Trọng Kim từ chức, Hồ Tá Khanh về sống ở Phan Thiết.
Năm 1946, ông được chủ tịch Hồ Chí Minh của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mời ra miền Bắc làm việc, nhưng ông không nhận lời. Cao ủy Pháp ở Đông Dương Bollaert cũng mời ông giữ chức vụ trong chính phủ Nam Kỳ, nhưng Hồ Tá Khanh cũng từ chối và sang Pháp.
Những năm 1950, ông làm việc tại châu Phi.
Sau những năm 1960, Hồ Tá Khanh về hưu, sống tại Pháp cho đến ngày qua đời ngày 18 tháng 8 năm 1996 tại Paris, Pháp. Thi hài ông được hỏa táng, tro cốt được đem về thờ tại nhà lưu niệm Hồ Tá Bang ở Trường Dục Thanh, Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
http://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93_T%C3%A1_Khanh
------------------------------------
GS Nguyễn Thành Giung, dạy Petrus Ký là anh rể của bà Tường Vân
Lycée Petrus Trương Vĩnh Ký , thường gọi tắt là Lycée Petrus Ký khai giảng ngày đầu tiên là ngày 01-10-1928 .hiệu trưởng đầu tiên là Ông Sainte Luce Banchelin,giám học là Ông Boulé,phát ngân viên là Ông Mahé. Chủ tịch hội đồng quản trị là Ông Gazano và các ủy viên người việt Nam là Ông Nguyễn Thành Giung , tiến sĩ hóa học,giáo sư khế ước,Ông Hồ Bảo Toàn và Trần Lê Chất,quan chức,là hai phụ huynh học sinh,ủy viên người Pháp là hai Ông Sainte Luce Banchelin và Mahé.
Theo Lược sử và hình ảnh lycée Petrus Trương Vĩnh Ký 1928-1945
Các Thầy Cô của chúng tôi toàn là người Pháp, chỉ có hai người Việt
Giáo sư Văn học là Ông Paquier và Ông Ruiz (Ông này còn là người nuôi ngựa đua vừa cởi ngựa đua),giáo sư Toán học là Ông Marquis (hay bắt Phạm Quang Lễ lên bảng giải giúp những bài toán khó),dạy Vật Lý là Ông Charvet,dạy Hóa học là Cô Jane Loye,người khá xinh đẹp,sau này lấy Ông Perruca dạy Vật Lý,dạy Địa lý và Sử ký là Bà Tissot,dạy Triết học có Ông Pechmalbec,dạy cả triết lý Khổng,Mạnh,Lão,Trang.
Theo "TRƯỜNG PETRUS KÝ NGÀY ẤY" Hồi ký của giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (hoc sinh Petrus Ký 1930)
Nói chung thì phần đông giáo sư Petrus Ký là giáo sư được chọn lọc, rất có căn bản chuyên môn và cũng rất đạo đức. Một số giáo sư Petrus Ký đã đảm nhiệm những chức vụ quan trọng trong ngành giáo dục sau khi dạy ở trường một thời gian. (Giáo sư Nguyễn Thành Giung sau làm Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Lược sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và Bình Dân Giáo Dục, giáo sư Phạm Văn Thuật sau làm Tổng Giám Đốc Trung Tiểu Học và BDGD, giáo sư Nguyễn Thanh Liêm sau làm Thứ Trưởng Bộ Văn Hóa Giáo Dục và Thanh Niên).
Ban giáo sư năm học đầu tiên là : Ông Nguyễn Thành Giung tiến sĩ khoa học, giáo sư khoa học tự nhiên, các giáo sư cử nhân chính ngạch là Ông Pouzancre, giáo sư triết dạy trường Chasseloup Laubat, Ông Collard giáo sư văn chương,Ông Cudenet giáo sư văn chương, Ông Paquier giáo sư Sử Địa, Ông Petit Colin giáo sư Sử Địa, Ông Gioan giáo sư toán, Ông Lê Văn Kiêm giáo sư Tóan,Ông Dutheil giáo sư tóan, Ông Marquis giáo sư vật lý, Bà Gioan giáo sư hội họa và 11 giáo sư đệ nhất cấp..Ban giáo sư cấp Cao đẳng tiểu học gồm các Ông Dương văn Cảnh, Ngô Văn Hiền, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Trương giáo sư văn chương, các Ông Thái Chí,Trần Văn Quế giáo sư khoa học, các Ông Cao Đình Nam và Nguyễn Văn Nho giáo sư Hán văn.
Thứ Năm, 17 tháng 2, 2011
Người xưa đâu tá!
Chiều hôm qua 16/2/2011, tôi đến nhà thăm bà Tường Vân. Và may mắn được Bà kể câu chuyện của gia đình có truyền thống yêu nước và về cụ Phan Chu Trinh.
Quan điểm tranh đấu của cụ Tây Hồ như thế này:
- Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh
- Kêu gọi trí thức Tây học về nước đấu tranh bất bạo động.
Thực hiện theo tư tưởng của cụ Phan, cụ Hồ Tá Bang cùng anh em bạn bè lập nên Liên Thành Thương Quán để có kinh phí "khai dân trí" tại trường Dục Thanh, nơi dạy con em nghèo và yêu nước kiến thức tiến bộ văn minh và tinh thần yêu nước.
(xem chi tiết http://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng_ty_Li%C3%AAn_Th%C3%A0nh)
Và cho đến ngày nay, con cháu cụ Hồ Tá Bang đã đạt được nhiều thành tựu như bác sĩ Hồ Tá Khanh, con trai cụ tham gia đấu tranh cách mạng, viết sách y khoa và tác phẩm sử học Thông sử liên thành
(xem chi tiết http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=N0NDQTBDMEI&key=B%C3%A1c+s%C4%A9+y+khoa+H%E1%BB%93+T%C3%A1+Khanh&type=A0&stype=0)
Đặc biệt, gia đình họ Hồ đã hỗ trợ nhiều quỹ học bổng cho các cháu học sinh ở quê nhà, khuyến khích học tập theo tư tưởng truyền thống của cha ông. Cháu nội cụ Hồ Tá Bang, ông Micheal Hồ Tá Khanh (tên ở nhà là Quốc), đem kỹ thuật thủy lợi về vùng quê Bình Thuận khô cằn sõi đá để giúp cho nông dân xứ Phan Thiết, Bình Thuận canh tác đỡ nhọc nhằn hơn. Tôi vô cùng xúc động khi nghe bà Sáu Tường Vân kể ông Hồ Tá Khanh nói rằng "quyết đem hết tài sản về giúp quê hương, không để rơi một đồng xu ở xứ người"...
Đẹp thay truyền thống yêu nước, yêu quê hương của một gia đình trí thức, con cháu tiếp nối di nguyện của cha ông, chăm chỉ học tập & cống hiến tài năng góp phần giúp đỡ dân tộc với tất cả tấm lòng.
"Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm
Người xưa đâu tá hãy giúp nổi gió mưa lửa hồng
Người xưa đâu tá hãy giúp cho dân Lạc Hồng!"
(Trích tác phẩm người xưa đâu tá của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước)
Người xưa đâu, người xưa đây......... đã về với dân Lạc Hồng
Chú thích:
Các bài viết về Hồ Tá Khanh (hay Hồ Tá Quốc)
http://pontvk.org/chuong-trinh-khac/nang-c%E1%BA%A5p-dung-l%C6%B0%E1%BB%A3ng-d%E1%BA%ADp-saloun-binh-thu%E1%BA%ADn
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Ong-tay-lam-thuy-loi-o-Binh-Thuan/31216
http://www.baobinhthuan.com.vn/vn/default.aspx?cat_id=679&news_id=36685
Các chi tiết về cụ Phan Chu Trinh, cụ Hồ Tá Bang tìm trên google sẽ thấy.
Lúc trước tôi từng viết 1 bài cũng lấy tựa là "Người xưa đâu tá!", bài viết ấy như câu hỏi, còn đây là câu trả lời
http://lengochan.multiply.com/journal/item/172
20g50' thứ năm 17/2/2011
Ngọc Hân
Thứ Sáu, 11 tháng 2, 2011
Chuyện riêng tư!
Thứ Năm, 10 tháng 2, 2011
Bún bò chị Na
Sáng thứ sáu ngày 21/1/2011, đến nhà Thầy Khê để được chú Kiệt hướng dẫn sử dụng máy scan phim âm bản, dương bản. Đến trưa được ở lại dùng món bún bò Huế chị Na nấu đãi chú Kiệt, cháu cô Sáu Tường Vân. Chị Na còn lấy chai rượu quý ra mời mọi người uống trong bữa ăn.
Trong khi trò chuyện, Thầy Khê nói chuyện về món ăn Việt Nam, về tên gọi món thịt kho hột vịt, về câu chuyện của gia đình,... mọi người trao đổi rất thú vị.
Chụp lại vài tấm hình kỷ niệm dịp được ăn bún bò với Thầy Khê - bà Sáu Tường Vân - vợ chồng chú Kiệt
Thứ Bảy, 2 tháng 10, 2010
Người xưa đâu tá!
Người xưa đâu tá!, một bản hùng ca gợi nhớ những chiến công của người xưa oai hùng đất Việt của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.
Trước gì tôi chỉ biết bài hát này qua lời kể của Thầy trong tập "Hồi ký", tối hôm qua lần đầu tiên tôi được nghe bài hát tuyệt vời này...
Thật tình cờ, tôi may mắn được đến giúp Thầy soạn bài trả lời phỏng vấn một tờ báo. Trả lời cho câu hỏi về kỷ niệm sâu sắc thời thanh niên tại miền Bắc, Thầy đã chọn sự kiện Hội sinh viên Việt Nam trình diễn bài "Người xưa đâu tá" ở trường ĐH Hà Nội...
Tôi giúp Thầy tìm lời chính xác của bài hát nhưng sau thật khó, một tác phẩm vĩ đại bị lãng quên, cũng may có 1 bài do NSND Quang Thọ trình bày đăng trên website Hội nhạc sĩ Việt Nam.
http://www.vnmusic.com.vn/music/index.php?aid=nghenhac&id=3169
Nhìn Thầy nghe bài hát và nhẩm theo lời tôi như nhìn thấy hình ảnh của những thanh niên sôi nổi nhiệt huyết vào năm 1942 tại buổi trình diễn. Những khoảnh khắc lịch sử ghi dấu ấn thời trai trẻ, hình ảnh các anh chị sinh viên đốt cháy mình vì quê hương đất nước, vì tình yêu dân tộc...
Trong buổi chuyên đề nghệ thuật định kỳ của Thầy vào tối thứ 7 25/9, có bạn trẻ hỏi Thầy "làm sao để có tình yêu quê hương đất nước"...
Tôi chạnh lòng trước sự băn khoăn của các bạn trẻ, thời nay các bạn năng động lắm, làm việc, học tập, sinh hoạt, dường như thời gian không bao giờ đủ với các bạn... Các bạn học rất giỏi, cũng say mê khám phá, hoặc thỉnh thoảng bỏ quên thời gian trong quán cafe... Nhưng mà các bạn lại mất phương hướng trong khái niệm tình yêu quê hương, yêu dân tộc
Có lẽ những bài học nặng nề không khơi gợi được trong tâm hồn các bạn... Các bạn hoạt động liên tục nhưng rồi lại không hiểu vì sao...
Tôi nhìn ánh mắt của Thầy chứa chan niềm vui khi nhắc lại hồi ức thời đã qua, lúc đó tôi đã cố gắng kiềm những giọt nước mắt của mình trước một nhân chứng lịch sử...
Tối nay, trong khi cố gắng tìm bài "Người xưa đâu tá" xem ngoài trang web của Hội nhạc sĩ Việt Nam còn có ai nhớ đến không... rất tiếc là không có...
Mà thay vào đó, tôi gặp lại hình ảnh của Thầy và những người bạn của Thầy trong bài viết của cụ Huỳnh Văn Tiểng... Những ký ức sống động mà ngày nay hiếm người bạn trẻ nào có được
Từ những hoạt động này, một ngọn lửa hồng đã cháy rực trong tim soi sáng cho Thầy Khê, bác Phước, bác Tiễng và hàng trăm thanh niên yêu nước ngày ấy nỗ lực sống, học tập và làm việc vì non sông đất Việt. Và họ đã để lại cho cuộc đời biết bao thành quả quý báu
… Sau thời kỳ học sinh, rồi đỗ tú tài, năm 1941 tôi ra trường Đại học Đông Dương tại Hà Nội, trường Đại học duy nhất ở Việt Nam lúc đó. Tôi theo học ngành Luật. Từ đó lại lao vào phong trào hoạt động. Anh em trong Nam đi học ngoài đó có đến 60, 70 người, cấy vào tổ chức: Hội Nam kỳ tương tế (gồm những người trong Nam ra Bắc làm việc). Hội này có quỹ rất lớn. Có nhà rất to ở Hàng Vôi, có nghĩa trang riêng. Tổng đốc Hà Tây hồi đó là người Nam kỳ nên hội đó rất mạnh. Anh em trong phong trào sinh viên học sinh yêu nước Nam kỳ khi ra Bắc lại nắm giữ hầu hết chứ vụ trong Ban Chấp hành của Hội Nam kỳ tương tế.
Dùng trụ sở Hàng Vôi thành nơi hoạt động cho Hội sinh viên, chúng tôi tham gia Đại hội Tổng hội sinh viên Đông Dương viết tắt là AGI, chiếm lấy địa vị chủ chốt trong Ban Chấp hành như tôi là Phó chủ tịch, ủy viên phụ trách tuyên truyền thể thao, âm nhạc... Bên cạnh tôi có vài chục anh em và có những gương mặt nổi bật như Lưu Hữu Phước, Mai Văn Bộ. Chúng tôi huy động thanh niên trí thức vào luồng cách mạng Cứu quốc. Nếu không, lớp thanh niên đó học đại học, ôm mộng ra làm quan, làm giàu. Phần lớn họ là con ông cháu cha, nhà giàu nên con đường của họ phải thế nhưng chúng tôi cố gắng thuyết phục họ thay đổi cách nghĩ. Bên cạnh lớp thanh niên con ông cháu cha còn có những sinh viên gia đình trung lưu. Chúng tôi cũng tìm cánh thuyết phục họ tham gia phong trào của cách mạng. Ngày đánh dấu bước ngoặt của phong trào sinh viên là ngày 16 tháng 3 năm 1942, nhằm ngày giỗ tổ Hùng Vương, chúng tôi thuê ba toa xe lửa, cùng học sinh trường Bưởi đi lên đền Hùng. Và lễ viếng vua Hùng thành lễ tuyên thệ của lớp thanh niên trí thức mới trung thành với Tổ quốc. Trong đêm đó bài hát Tiếng gọi sinh viên ra đời, gây ấn tượng rất mạnh. Bài hát do tôi viết lời, Lưu Hữu Phước phổ nhạc. Bài hát có đoạn: "Này sinh viên ơi đứng lên đáp đền sông núi Cùng nhau ta đi mở đường theo lối Vì non sông nước xưa, cùng nhau ta đi lên! Dù gian lao khó khăn ta cùng nhau kết đoàn". Bài “Tiếng gọi sinh viên" ra đời đúng lúc và phù hợp với tâm lý của thanh niên nên được chấp nhận nhanh lắm. Bài hát kêu gọi tha thiết: "Thanh niên ơi! Ta quyết đi đến cùng Sinh viên ơi! Ta nguyện đem hết lòng Tiến lên cùng tiến, sá chi đời sống Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng" Bài hát đó là công cụ chủ lực của sinh viên, kết đoàn thanh niên cả nước, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, Hải Phòng. Sau này chúng tôi cho in bài hát này gửi đến nhiều nơi. Bên cạnh bài “Tiếng gọi sinh viên" tôi còn có thêm một số bài hát hỗ trợ nữa. Bài "Người xưa đâu tá" gợi lại hình ảnh các bậc tiền nhân: "Ngàn năm lưu dấu có tiếng nước non vang gọi Người xưa đâu tá có khóc trong đêm lạnh lẽo? Người xưa đâu tá có khóc những khi trời chiều? Tưởng nhớ tới bao khi ai kia trên sóng Bạch Đằng làm chủ. Tưởng nhớ tới bao khi ai kia kéo quân mở mang miền Trung. Người nay đâu tá cho thổi bùng ngọn lửa Người nay đâu tá còn nhớ bao lâu nữa Trời nay đâu tá, say mê lên đường lợi danh Người nay đâu tá hãy nhớ đến dân Lạc Hồng..." Bài hát kêu gọi những người còn mê mải trên đường lợi danh bừng mở mắt sáng soi gương những lớp người tài, đồng cam nổi lên. "Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm chớ nên thiệt thòi" Giai điệu lắng xuống: "Người xưa đâu tá hãy giúp thiếu niên dũng cảm Người xưa đâu tá hãy giúp nổi gió mưa lửa sóng Người xưa đâu tá hãy giúp cho dân Lạc Hồng!" Bài này chúng tôi giới thiệu ngay trong đêm hội trên đền Hùng trước đông đảo học sinh trường Bưởi. Hàng trăm người cùng hợp xướng tạo nên không khí sôi động thúc đẩy sinh viên phải biết đoàn kết. Bài hát nữa là bài Bạch Đằng giang có câu kết thúc: "Đằng giang vẫn sáng để cho nòi giống soi chung". Các bài hát có sức cổ vũ động viên sinh viên rất mạnh. Từ văn hóa ra phong trào. Một khi vỡ vạc ra, người tri thức không còn quanh quẩn với mơ ước hẹp hòi, vợ đẹp con khôn nữa mà làm sao cho xứng đáng với tổ tiên như trong lời thề trong hội đền Hùng. Cũng trong đêm 16 tháng 3 năm 1942 đáng nhớ đó anh Dương Đức Hiền (Chủ tịch), tôi cùng anh Nguyễn Sĩ Dư là Phó Chủ tịch Hội sinh viên đến trước đền Thượng có đặt một bên chiêng, một bên trống, chúng tôi đánh liên tục mấy hồi, còn thanh niên, sinh viên thì lần lượt đi từ dưới lên. Anh Dương Đức Hiền, Chủ tịch Hội sinh viên khi đó là cử nhân Luật học, chuẩn bị lên hàng tiến sĩ nhưng cũng đã vứt bỏ tất cả đi theo con đường tranh đấu cho tự do của đất nước. Anh đã bước lên thay mặt cho toàn thể thanh niên trí thức cất lời thề thiêng liêng. "Thưa các bậc tiền nhân! Chúng con là con cháu, ngày nay gặp nỗi nhục mất nước nên đứng lên hoạt động, đoàn kết nhau lại để tìm lại tự do. Mong các bậc tiền nhân chứng giám và hỗ trợ cho chúng con!"... Hội đền Hùng đánh dấu bước ngoặt trong công tác tư tưởng của Hội sinh viên. Chúng tôi hướng tới đích giáo dục lòng yêu nước trở về tổ tiên, đoàn kết với nhau phụng sự đất nước. Sau đó tôi ở ban tuyên truyền phụ trách báo viết bằng tiếng Pháp Le bloc, tuyên truyền trong giới học sinh, sinh viên. Báo ra hai kỳ một tháng, lấy một bài xã luận ngắn gọn kêu gọi lớp trẻ. Luôn luôn có khẩu hiệu mào đầu trên măng sét: "Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách". "Thất phu” có trách nhiệm thì sinh viên phải có trách nhiệm chứ. Tờ báo đó rất có ảnh hưởng. Ban đầu chỉ là thông báo những hoạt động của sinh viên như phóng sự về đêm tuyên thệ tại đền Hùng. Sau là tiếng gọi thanh niên, sinh viên đoàn kết tương trợ. Thứ ba là trở về nguồn gốc dân tộc. Các lễ hội dân tộc luôn luôn được đưa lên báo. Chúng tôi mới ra Hà Nội nên luôn luôn ao ước giữ lấy ý tưởng yêu nước. Đặc biệt chúng tôi sống xa miền Nam, nơi quê hương chôn nhau cắt rốn nên càng đề cao lòng yêu đất nước, quê hương. Chúng tôi luôn động viên sao cho xứng đáng con Rồng, cháu Lạc. Vừa ra Bắc chúng tôi đã tổ chức những cuộc "hành hương". Hà Nội thì hành hương đến đền "Hai Bà Trưng". Chúng tôi ngủ tại đó, hội thảo tại đó quy mô lắm. Chúng tôi muốn qua đó giữ truyền thống ông cha yêu nước dựa vào tinh thần tự hào dân tộc và tự hào vì gương oanh liệt của cha ông. Có tờ báo trong tay, chúng tôi cổ vũ phong trào yêu quê hương đất nước, đem lại lòng tin cho sinh viên. Chúng tôi kết hợp tuyên truyền những bài hát, những tờ báo. Phong trào yêu nước trong sinh viên đã lên đến cao điểm không chỉ ở Hà Nội mà trong cả nước. Bước ngoặt thứ hai trong phong trào sinh viên là dấy lên phong trào thương dân. Năm 1941, chúng tôi tổ chức các trại hè của sinh viên. Thời kỳ này thực dân Pháp chủ trương chính sách xoa dịu, mua chuộc sinh viên, thanh niên trí thức ở Đông Dương. Tên phó Toàn quyền Đông Dương, Tổng ủy trưởng thể thao thanh niên dùng mọi cách xoa dịu chúng tôi. Khi biết chúng tôi có ý định tổ chức trại hè, hắn gọi lên nói thế này: "Các anh là người trí thức cao cấp, sau sẽ là người cai trị đất nước. Chúng tôi không đành để các anh khó khăn. Vì vậy nếu anh muốn gì chúng tôi cung cấp quỹ để sinh hoạt, trưng dụng một số biệt thự sang trọng ở Sa Pa, Tam Đảo, Đồ Sơn cho các anh nghỉ ngơi, cung cấp phí cho các anh tập thể thao". Nhưng chúng tôi đã từ chối nhã nhặn: "Chúng tôi rất cảm ơn Tổng ủy trưởng nhưng chúng tôi muốn tự lực khỏi phiền hà đến nhà nước!". Chúng tôi tổ chức đêm văn nghệ dạ hội sinh viên lấy quỹ để tổ chức trại hè. Qua đêm dạ hội, chúng tôi tranh thủ giáo dục lòng tự hào dân tộc bằng cách đưa dân ca 3 miền lên, đưa bài hát yêu nước lên. Chúng tôi còn diễn những vở kịch yêu nước. Ban đầu là những vở kịch có tính chất nhớ nước như là "Sinh viên yêu nước thời đại", giáo dục sinh viên hãy xứng đáng với cha ông giúp đỡ đồng bào. Sau đó diễn những vở kịch kêu gọi cao hơn như vở kịch "Đêm Lam Sơn khởi nghĩa" về Lê Lợi, vở "Nợ Mê Linh” về Hai Bà Trưng. Đây cũng là lần đầu tiên đưa ra vở nhạc kịch giai điệu dân tộc là "Tục lụy”. Vở kịch nói về 3 cô tiên lạc xuống trần gian, một cô ở lại lấy một tiều phu sinh con, phục vụ nhân loại, xã hội. Vở kịch giáo dục thiên chức phụ nữ nhưng còn có ý nghĩa sâu sắc hơn là giáo dục tình yêu nhân dân. Các đêm dạ hội sinh viên ở Hà Nội, Sài Gòn đều rất đông người tham dự. Tiền thu được từ các dạ hội chúng tôi dùng để tổ chức trại hè. Khác với mong muốn của đế quốc là những sinh viên con nhà khá giả, con ông cháu cha, được ưu đãi của xã hội thì sẽ được hưởng những buổi trại hè an nhàn, ở những nơi phong cảnh hữu tình, chúng tôi đã cắm trại ở những nơi bùn lầy nước đọng, ngay bên xóm những người lao động cực nhọc. Ở Hà Nội, chúng tôi cắm trại ở Tương Mai và Khương Hạ là nơi dân nghèo, thất học, bệnh tật nhiều. Chúng tôi đi trại hè không phải để vui chơi đơn thuần giải trí mà đến đó để điều tra xã hội học. Ở Trung Bộ, chúng tôi cắm trại ở Hạc Trì (Thanh Hóa), ở Nam Bộ thì cắm trại nơi suối Lồ (Thủ Đức). Đây là dịp để sinh viên tiếp xúc với nhân dân, trước đây đã hướng về tổ tiên rèn luyện ý chí yêu nước, cứu nước thì nay rèn luyện tình thương yêu dân để giúp dân và cũng nhằm để sau này tập hợp lực lượng cứu nước. Dân tộc có lịch sử là cha ông dựng nên, hiện tại là dân chúng nghèo khổ, phải đứng lên cứu nước. Dịp đó chúng tôi điều tra xã hội học xem bao nhiêu người thất học, bao nhiêu người nghèo khổ, bao nhiêu người bị ức hiếp, bao nhiêu người đã tiếp xúc với phong trào cách mạng trước đây. Chúng tôi lập những hội truyền bá quốc ngữ, truyền bá vệ sinh, phổ thông luật học, phổ biến bài hát yêu nước. Các hoạt động này nâng tinh thần cách mạng thật sự trong mỗi người. Tại ký túc xá Nam kỳ, có mấy sinh viên con đốc phủ, con quan lại Sài Gòn học ở miền Bắc mỗi người thuê một đứa bé con để hầu hạ cơm nước, giặt giũ. Các sinh viên này mắng chửi đánh đập những em bé đó dữ lắm. Chúng tôi bất bình, họp nhau lại ra yêu cầu cấm đánh đập trẻ em, cấm sỉ vả, coi thường dân Bắc Bộ nghèo nàn. Chúng tôi lấy đó làm tiêu chuẩn đầu tiên để đấu tranh bảo vệ dân mình, đồng bào mình. Chúng tôi đã thắng lợi. Đi xuống dân thấy dân khổ càng nuôi thêm lòng yêu nước. Tôi sáng tác bài hát Điều mong gửi gieo ánh sáng: "Lòng vui sướng anh em ơi tim thấm nhuần tình đồng bào Mình đi gieo khắp nơi nơi nông thôn tối tăm, đời mịt mù xót xa Tiếng nông thôn, tiếng đồng quê thiết tha". Qua bài hát, tôi muốn kêu gọi thanh niên đến với dân nghèo khổ, dốt nát giúp đỡ họ. Rồi chúng tôi còn phổ biến bài Khóc Quốc hồn của anh Nguyễn Minh Kha: "Hương tàn theo khói đưa Khơi nguồn thương tiếc xưa Tiếng non nước vang dậy vang". Trong khi phong trào đang dậy, những bài hát yêu nước càng thêm xúc động lòng người. Sau khi phổ biến những bài hát kêu gọi đến với dân, chúng tôi tiến một bước nữa là kêu gọi liên kết những người cùng khổ. Chúng tôi phổ biến bài hát 80 năm sống đời tối tăm: "80 năm sống đời tối tăm Ta diệt trừ… " Chúng tôi còn tiếp tục khơi dậy phong trào thông qua báo chí dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam kỳ. Ngày đó do bị địch khủng bố, phong trào phía Nam rất khó khăn. Năm 1943, Tổng bộ Việt Minh (Trung ương Đảng) tiếp xúc với chúng tôi và đến năm 1944 đã khuyên chúng tôi bỏ học vào Nam. Khi đó trục phát xít đã gẫy rồi, thua rồi, thời cơ giành độc lập đã đến. Thế là tôi bỏ học, đạp xe đạp trở về Nam. Ngày đó lưu truyền bài hát: "Mau về Nam mở tung nguồn sống Kiếp tùng chi hùng anh trong thời xanh Hà thành nay suốt đêm còi hú Báo động liền chua xót Ngoài ngày sương đời thanh niên buồn trôi lững lờ Trong hầm tối tăm, đợi âm thầm Nay ta quyết mở tung nguồn sống Ríu rít tàu về Nam". Thế là bao nhiêu anh em miền Nam cùng lấy cớ bom đạn không học được để trở về Nam. Tiếp sau giai đoạn một, kêu gọi yêu nước, giai đoạn hai, xuống dân, chúng tôi thực hiện giai đoạn ba là tập hợp lực lượng để đấu tranh. Tôi viết bài hát Xếp bút nghiên kêu gọi anh em: "Xếp bút nghiên lên đường tranh đấu Xếp bút nghiên coi thường công danh như phù vân Sơn hà xao xuyến tiến ta tiến Một lòng yêu non sông, vì dân ta liều thân Thấy đoàn ta tiến tới nước non chào mời Hèn thay đời nhàn cư, hèn thay vui yêu đương Lúc quê hương cần người, xếp lại tơ vương giã từ Hồn Vệt Nam hùng thiêng, từ ngàn xưa bừng rỡ Kêu ta lên đường cứu quốc gia". Khi chúng tôi đạp xe đến Ninh Bình thì bị địch bắt đưa về Hà Nội để lấy cung. Chúng tôi không khai là có quan hệ với Việt Minh nên chúng không khép được chúng tôi vào tội gì. Sau 10 ngày giam giữ ở Hà Nội, bọn chúng thả chúng tôi ra và chúng tôi lại rong ruổi về Nam. Dọc đường qua sông Gianh, tôi viết bài Hồn sông Gianh lên án sự chia rẽ dân tộc. Tôi còn viết bài hát Nam tiến vì dọc đường đi thấy đất nước mênh mông trong tôi trào dâng lòng biết ơn tổ tiên có công khai phá đất nước. Khi về đến Sài Gòn chúng tôi đấu tranh để lập ra Hội Quốc ngữ công khai. Lấy tờ báo Thanh niên của Huỳnh Tấn Phát làm tờ báo của Hội để hoạt động, tuyên truyền yêu nước. Chúng tôi thuyết phục một đại phú gia, đại địa chủ, Pháp quan Ngân hàng Misenmi Nguyễn theo phong trào, làm Chủ tịch Hội chữ quốc ngữ để Pháp không nghi ngờ. Chúng tôi đang hoạt động rất ăn khớp thì bị địch bắt giam 9 tháng. Chúng tôi giữ bí mật cho Việt Minh nhưng chúng vẫn nghi ngờ vì trước đó chúng đã khám phá biết chúng tôi có ý định mua súng ống, xe ô tô... Trong tù, chúng lung lạc ý chí của anh em dữ lắm. Chúng tôi bị giam trong khám Lớn sau chuyển lên Chí Hòa. Chúng không cho người nhà thăm mà chỉ cho gửi quà vào dịp cúng cô hồn mỗi tháng. Chúng xếp quà dài trên lối đi, cúng cô hồn rất nặng nề. Nhiều người mất tinh thần, tỏ ra bi quan. Nhưng chúng tôi không bi quan, nao núng. Chúng tôi hát vang những bài hát yêu nước của phong trào sinh viên ngày trước. Chúng tôi còn sáng tác bài hát trong tù: Xin giữ lời nguyền: "Xa nhau nhớ nhau Nhớ nhau ta xin giữ lời nguyền lúc nào Ráng gìn tâm trí thanh cao Tấm lòng tranh đấu chớ nao!". Sau khi ra tù, tôi lại tham gia phong trào Thanh niên Tiền phong, tập hợp lực lượng ra hoạt động công khai hợp pháp. Lúc này Nhật sắp đầu hàng nên không dám đàn áp dân, vì vậy Nam kỳ mới có sức để tổng khởi nghĩa. Trong Đoàn Thanh niên Tiền phong bài Lên đàng của tôi được chính thức làm bài đoàn ca tươi sáng. Nhịp lời hai tôi chỉ viết trong mấy tiếng đồng hồ, rất kịp thời. Chúng tôi ra tờ báo Tiến làm đại diện cho đoàn Thanh niên Tiền phong. Rồi Tổng khởi nghĩa bùng lên nhanh, gọn. Chúng tôi cướp chính quyền trong ba tiếng đồng hồ từ 7 giờ đến 10 giờ tối ngày 24-8-1945 đã hoàn thành. Chế độ nô lệ gần một thế kỷ sụp đổ. Sáng ngày 25 tháng 8, hàng triệu dân Sài Gòn và các tỉnh lân cận chào mừng độc lập. Rồi đến toàn quốc kháng chiến. Người dân Nam Bộ thấy chính quyền là của mình nên họ quyết sống chết để bảo vệ. Tôi từ trong phong trào cách mạng mà trưởng thành. Trong đó luôn khắc sâu những kỷ niệm những ngày hoạt động dùng báo chí kết hợp các bài hát để tuyên truyền, vận động quần chúng, hoạt động cách mạng. Nhiều báo khác đã ủng hộ phong trào như tờ báo Dân tộc, báo Kinh điền… Một số cá nhân và tập thể ở miền Nam cũng ủng hộ chúng tôi như ông Hồ Sĩ Nguyên ủng hộ gián tiếp, trường Quốc ngữ ủng hộ phong trào ca nhạc mới của sinh viên, ủng hộ trại hè… Cũng thời gian này chúng tôi còn ra tờ báo Chàng lính, cơ quan của ủy ban kháng chiến Nam Bộ, tôi làm Phó chủ tịch. Sau đó tôi phụ trách thông tin Nam Bộ, nên khuyến khích đỡ đầu tờ báo của Khu 7, khu 8, khu 9, như báo Tiếng súng kháng địch của Khu 9, báo Cảm tử của Khu 7. Báo các đoàn thể cũng được chúng tôi khuyến khích như báo Độc lập của Đảng Dân chủ. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp gây hấn ở Nam Bộ, mở ra cuộc chiến giữa ta với Pháp. Tuy lúc đó chưa bắt đầu kháng chiến ở Bắc Bộ nhưng Pháp đánh Nam Bộ là coi như bắt đầu chiến tranh rồi. Ta và Pháp đã đàm phán tại Hội nghị Đà Lạt, Hội nghị Phôngtennơblô ý muốn ta nhường Nam Bộ cho chúng. Chúng muốn lấy miền Nam làm bàn đạp. Đồng thời, đây là ban công để đánh lan ra Trung Bộ và Bắc Bộ. Vì thế, không Hội nghị nào có thể cứu vãn. Bác Hồ đã vớt lại bằng cách ký Tạm ước ngày 14-9-1945 để thủ hòa vì biết không thể giải quyết được. Huỳnh Văn Tiểng Nguyên giám đốc Đài phát thanh Nam Bộ Theo “Hà Nội - Mùa thu cách mạng”, Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội, Nxb. Hà Nội. 2000 Nguồn: http://www.thanglonghanoi.gov.vn/channel/21/2010/08/6879/#ibHUQGvcIA5m
Thứ Tư, 29 tháng 9, 2010
GS Trần Văn Khê đóng vai chàng cà lăm hát đúng nhịp
Thứ Bảy, 21 tháng 8, 2010
GS Trần Văn Khê: "Tôi không thích ra đi trong đau ốm..."
Hơn cả tình bạn, với ông - những cây đờn như những tri kỷ, tri âm.
Yêu đờn như yêu con nhỏ
Tháng 12/2004, sau khi về nước, một lần GS Trần Văn Khê đưa đờn ra gảy và ghi âm lại - như thường lệ. Song, lần này, ông nghe lại mà nước mắt chảy dài: “Thôi rồi, mình không còn là mình nữa”.
Tai ông nghe không còn tốt. Qua máy trợ thính, nhiều âm thanh nghe không chuẩn. Các khớp ngón tay cứng đơ, chẳng còn nghe theo ông: bắt dây đờn thì bắt trật, có lúc kẹt tay; muốn tay đi mau hay nhấn sâu đều không được…
| Làm bạn với đờn từ năm lên 6, đến nay tình thân của ông với đờn đã 84 năm. |
Không làm chủ được lỗ tai và hai bàn tay, ông quyết định không đờn cho thính giả nghe nữa. “Điều này làm tôi buồn suốt 6 tháng trời. Dứt buồn, tôi nghĩ, dầu không đờn nữa nhưng vẫn tiếp tục dạy học trò, thỉnh thoảng tự mình đờn cho mình mình nghe” - GS Khê kể lại.
Ở tuổi 90, GS Khê đang đối mặt với không ít bệnh tật: tiểu đường, thấp khớp, gan nhiễm mỡ… Nhưng thói quen vuốt ve đờn, lau chùi dây vẫn được ông duy trì thường xuyên.
Hơn cả tình bạn, với ông - những cây đàn như tri âm, tri kỷ. Năm 1988, ông từ Paris qua Honolulu (Mỹ) dạy học. Để được mang theo cây đờn tranh, ông đã phải mua thêm một vé máy bay cho trẻ em, ghi tên: Trần Cithare (cithare, tiếng Pháp là cây đờn cùng một họ với đờn tranh).
Khi lên máy bay, “em bé đàn” có nhân viên “ẵm” rồi cột dây an toàn. Tới giờ cơm, đàn cũng có phần. “Tôi nghĩ, mang theo đờn cũng như mang theo con nhỏ vậy”, ông nói.
Làm bạn với đờn từ năm lên 6, đến nay tình thân của ông với đờn đã 84 năm. Tất cả những cây đờn đều được ông yêu thương, trân quý. Ông kể: “Tôi không bao giờ bước ngang qua đờn. Khi đờn xong, tôi xếp đờn trở lại để phía trước rồi cúi đầu chào nó”.
Dịu dàng như người mẹ
Hiện GS Trần Văn Khê đang sống và làm việc tại số nhà 32, đường Huỳnh Đình Hai, quận Bình Thạnh, TP.HCM. Những người thân của GS đều định cư ở nước ngoài. Bên ông là những người trợ lý tận tụy…
Chị Nguyễn Thị Na, 41 tuổi, người chăm sóc GS 5 năm nay, nhận xét: “Thầy nghiêm khắc như người cha, độ lượng như người ông và dịu dàng như một người mẹ”.
“Những hôm tôi nấu ăn dở, thầy chỉ ăn ít hơn chứ không bao giờ chê. Những lúc tôi buồn nhớ gia đình, dù cố giấu nhưng bao giờ thầy cũng nhận ra và động viên ân cần”, chị Na kể.
Năm 2008, chị Na được một người đàn ông góa hỏi làm vợ. Trong lúc đang phân vân, chị nhận được lời khuyên của thầy: “Con nên suy nghĩ thấu đáo”. Đồng thời, thầy cũng đã chuẩn bị sẵn của hồi môn cho chị.
Cân nhắc kỹ, chị đã quyết định không nhắm mắt đưa chân!
| Mồ côi từ nhỏ, lại là con cả nên ông sớm trở thành điểm tựa cho hai em, ngay cả khi các em đã trưởng thành. |
GS kể, do mồ côi từ nhỏ, lại là con cả nên ông sớm trở thành điểm tựa cho hai em. Hồi nhỏ, mỗi khi em trai Trần Văn Trạch buồn, ông không bao giờ nói em: “Đừng buồn nữa” mà nhẹ nhàng ôm em vào lòng, vuốt tóc em, hát cho em nghe những bài em thích hay tập cho em bài mới.
Sau này, khi cả hai anh em đều đã hai thứ tóc, mỗi khi gặp chuyện không vui, ông Trạch vẫn tìm đến ông “để được anh Hai đờn vọng cổ cho em ca, để em còn biết em là ai”.
Em gái Trần Ngọc Sương luôn coi ông như một người mẹ. Bước vào tuổi cập kê, cô Sương thường tìm ông chia sẻ tâm tư. Cảm nhận được tình yêu và sự quan tâm bền bỉ của anh trai nên khi gặp gỡ người con trai nào hơi lơ là, thiếu nhạy cảm, cô lại buồn.
Có lần, cô nói về một người bạn trai: “Người ấy giọng the thé, không phải giọng trầm giống anh Hai”. Ông bảo: “Em đừng nghĩ rằng, trên đời này có hai người giống nhau hoàn toàn. Em phải làm sao thích nghi với hoàn cảnh chớ không để hoàn cảnh thích nghi với mình”.
Nhiều năm, ông đều nhận được lễ tạ ơn của em gái trong Ngày của mẹ. Bà Ngọc Sương kể, bà chưa bao giờ phải nhỏ nước mắt của thân phận mồ côi bởi đã có anh Hai là mẹ hiền.
Muốn nói về âm nhạc, ngay trong phút cuối cùng…
Tháng 4/2009, căn bệnh thần kinh tọa tái phát khiến ông phải nằm liệt giường.
Thời gian đó, một vài người bạn thân quen của ông lần lượt về cõi vĩnh hằng. Tinh thần ông vốn không yên lại càng bất an. Đã có lúc ông muốn buông xuôi sức khỏe, không điều trị, không uống thuốc nữa…
Rất may, sau một tháng rưỡi nằm liệt, ông đã gặp được một y sĩ Đông y giỏi. Sau 3 tuần điều trị, ông đã có thể ngồi, đứng lên và đi được - dù khó nhọc.
| GS Trần Văn Khê trong một buổi nói chuyện. |
Ở tuổi 90, dù phải ngồi xe lăn nhưng công việc của ông vẫn luôn bận rộn mỗi ngày: thu băng, đọc sách, tham gia các hội nghị, hội thảo… Với ông, công việc luôn mang lại những niềm vui bất tận.
“Ước nguyện hiện tại của tôi là có thể say sưa nói về âm nhạc, trong cả những phút cuối cùng được sống. Có những sự ra đi rất đẹp, như nhà thơ Đông Hồ ra đi khi đang đứng trên bục giảng, hay như nhà soạn kịch Pháp Molière chết khi đang đóng kịch. Tôi không thích ra đi trong đau ốm, làm khổ người này, người khác…”, ông sẻ chia tâm nguyện.
Phan Tú
http://bee.net.vn/channel/1988/201008/GS-Tran-Van-Khe-%E2%80%99Toi-khong-thich-ra-di-trong-dau-om%E2%80%99-1764141/
Chủ Nhật, 8 tháng 8, 2010
Giới thiệu tự truyện "Những câu chuyện về trái tim"
Vào ngày 24/7/1981 nhân sinh nhật lục tuần của Giáo sư Trần Văn Khê, Giáo sư Trần Quang Hải gửi tặng người Cha kính yêu vài câu thơ chúc mừng tràn ngập niềm tự hào:
Trăm năm hiếm có bậc tài hoa
Năm châu nổi tiếng đàn dân tộc
Bốn bể vang danh nhạc nước nhà
Sự nghiệp vững bền nuôi chí lớn
Gia tài hun đúc nghiệp cầm ca
Đã gần 30 năm trôi qua, ấy vậy mà cũng không có gì thay đổi với sứ mệnh của Giáo sư Trần Văn Khê, đó là tiếp tục miệt mài công việc giới thiệu rộng rãi nét đẹp của âm nhạc dân tộc Việt Nam. Nhìn vào vô số giải thưởng, huy chương bằng danh dự cùng hàng loạt chức danh, nhiệm vụ của GS nhiều người thường lầm tưởng GS lúc nào cũng gặp may mắn, hưởng nhiều ưu ái đặc biệt hay có khả năng phi thường. Thực ra những thành công của Giáo sư đạt được là nhờ có 1 tấm lòng- tấm lòng thiết tha với tình yêu âm nhạc dân tộc VN. “Những câu chuỵên từ trái tim” quyển tự truyện mới nhất được First News ra mắt nhân sinh nhật lần thứ 90 của GS Trần Văn Khê sẽ cho chúng ta thấy một cái nhìn đầy đủ nhất của 1 con người mà cả cuộc đời đã dành hết tâm can cho 1 niềm đam mê duy nhất. 90 năm với bao chiêm nghiệm về cuộc đời, về những thăng trầm của cuộc sống, và với những nghị lực phi thường để vượt lên số phận đến với thành công, trong tập sách là những tâm tình của một người Thầy dành hết lòng yêu thương để nhắn nhủ với các học trò qua những mẩu chuyện có thực của Ông. [0.26-0.38]Quyển này là quyển thầy tâm sự, thầy nói tới thầy chọn lựa một số chuyện mà không phải nói câu chuyện đó để thuật câu chuyện đó mà nói câu chuyện đó để đưa ra một bài học….
12 mẩu chuyện thú vị tưởng chừng rất giản đơn nhưng thấm đượm biết bao bài học quý giá, 1 số phận không may mắn khi mồ côi cha mẹ từ nhỏ, đến chuỗi ngày dài trải qua trong bệnh viện với cơn bạo bệnh thập tử nhất sinh tưởng chừng không qua khỏi, rồi cả những bài học về cách làm chồng làm cha, rất giản dị những chất chứa cả một tấm lòng. Một số mẩu chuyện trong quyển sách này đã từng xuất hiện sơ lượt trong bộ Hồi ký của GS Trần Văn Khê hay qua lời chuyện trò của Ông nhưng lần ra mắt này mới mẻ hơn, chi tiết hơn, sâu sắc hơn qua lối dẫn chuyện chân tình pha lẫn vài nét hài hước, dí dỏm. Lần giở từng trang sách độc giả sẽ khám phá và hiểu nhiều hơn về con người cả cuộc đời đốt cháy hết mình cho lý tưởng giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam đến khắp năm châu bốn bể. Trong mẩu chuyện “học như thể đời chẳng dài lâu”, GS truyền lửa đam mê học hỏi suốt cuộc đời đến các bạn trẻ vì theo ông “ngày hôm nay phải biết nhiều hơn ngày hôm qua và ít hơn ngày mai”. Ông nói:
[09.08-9.47] mình phải học hoài hoài, châm ngôn của thầy ngày hôm nay biết nhiều hơn hôm qua và biết ít hơn ngày mai, hơn ở chỗ mình biết hơn nhiều, làm được nhiều việc hay hơn nhiều có nhiều đứa học trò hỏi thầy nếu đến chiều tối thầy không thấy có gì hay hơn thì sao, thầy nói thì đâu có gì khó, suốt ngày không có gì hơn hôm qua Thầy lấy từ điển học 7,8 tiếng nước khác, vậy là thầy hôm nay hơn thầy hôm qua 7, 8 tiếng. Nghĩa là phải có chủ định phải học. Không ngừng trao dồi kiến thức, rèn luyện ý chí bản thân. …
Mỗi khi có dịp xem GS Trần Văn Khê nói chuyện chúng ta thường thấy vô số những chi tiết từ nhỏ đến lớn tích lũy từ thời thơ ấu được Ông trích dẫn một cách chính xác. Trí nhớ tuyệt vời này theo Ông thực ra bẩm sinh chỉ có 30%, còn lại đều nhờ vào nỗ lực tập luyện của bản thân. Cũng trong mẩu chuyện “học như thể đời chẳng dài lâu”, GS Trần Văn Khê sẽ chia sẻ với chúng ta bí quyết học bài mau thuộc mau nhớ và hơn hết là nhớ sâu, nhớ lâu các dữ kiện ấy. Với nguyên tắc học một nhớ ba, Ông vận dụng tất cả các giác quan tai nghe, mắt nhìn, tay viết, miệng đọc tập trung trong lúc học bài. Kiến thức đi vào qua 4 ngả thì thế nào cũng có một dữ liệu thành công đến đích bộ nhớ lưu trữ. Một thời điểm lịch sử thì nên nhớ một lúc vài sự kiện xảy ra trong cùng khoảng thời gian đó sẽ nhớ dễ dàng và nhớ được nhiều hơn. Hoặc những kinh nghiệm sáng tạo thú vị như giản dị hóa những sự kiện phức tạp, so sánh phân tích các dữ kiện, phổ nhạc các bài thơ, đặt thơ cho quy luật.. Qua thành công của bản thân cũng như từng tiếp xúc với nhiều nhân vật nổi tiếng trên thế giới như nhạc sư Ravi Shankar, bậc thầy âm nhạc truyền thống Ấn Độ, Ông đưa ra lời khuyên chân thành trong mẩu chuyện “Hạt ngọc tâm hồn mang tên khiêm tốn”. Chúng ta đừng vì vài thành công vừa đạt được mà vội vàng tự mãn, tự kiêu rằng mình là giỏi nhất, là số một. Thực ra với quãng thời gian ngắn ngủi của đời người, những gì chúng ta đã biết, đã làm được chỉ là một hạt cát nhỏ nhoi giữa thế giới rộng lớn vô hạn. Sự khiêm nhường cùng với tinh thần biết lắng nghe lời góp ý của người khác, biết lỗi thì nhận, thấy sai thì sửa sẽ giúp chúng ta hành động sáng suốt hơn và tiến xa, tiến nhanh hơn và nhận được sự tôn trọng, kính mến của tất cả mọi người.
Trên quãng đường mấy mươi năm bôn ba khắp xứ người quảng bá cho âm nhạc dân tộc Việt, GS Trần Văn Khê đã vượt qua nhiều tính huống ngoại giao nhạy cảm, khó khăn. Mẩu chuyện cuối cùng “Cố gắng ứng đối trọng vẹn với người” gửi gắm đến chúng ta bài học ứng xử sâu sắc. Khéo léo chọn những lời nói hợp tình, hợp lý cùng thái độ mềm dẻo sẽ thuyết phục người ta thuận theo ý mình không bị mất lòng. Điểm đặc biệt trong cách ứng xử của Ông chính là không sử dụng “lời nói dối vô hại” ở bất cứ tình huống nào mà chỉ vận dụng tài ứng đối xử lý uyển chuyển của bản thân. Bài học này chẳng những chỉ ứng dụng trong nhửng trường hợp ngoại giao mà bất cứ lúc nào chúng ta cũng nên áp dụng để vừa ý người mà hạp lòng ta.
Ở những trang cuối cùng của tập thơ chúng ta sẽ được thưởng thức những bài thơ duyên dáng của GS Trần Văn Khê sáng tác trong nhiều thời điểm như khai bút đầu năm, thơ tặng các con nhân dịp sinh nhật, thơ tự trào… hay sáng tác vui trong lúc quan sát mọi người trên chuyến tàu, trên sân ga. Ngoài những nội dung kể trên, quyển tùy bút còn chứa đựng nhiều thông điệp sống bổ ích khác GS muốn gửi gắm đến tất cả độc giả đặc biệt
[11.44-12.09] mục đích của thầy luôn luôn nghĩ tới giới trẻ nhiều hơn vì giới trẻ là tương lai, làm chủ đất nước, đào tạo lớp trẻ bản lĩnh, có được khả năng thì có thể đào tạo cho tương lai một số người tiếp nối những người bây giờ để làm cho đất nước mình đi lên…
Và con Người đã dành tình yêu lớn nhất của cuộc đời gắn với dân tộc với âm nhạc truyền thống gửi gắm hoài bão đến với chúng ta thông điệp quan trọng về bí quyết thành công trong cuộc sống [13.27-13.55] thứ nhất là thế này không bao giờ thối chí trước mọi việc, quyết tâm làm chuyện gì thì mình làm tự nhiên không ra có khó ra dễ. Luôn luôn tự tu thân tập luyện cho cơ thể, tập luyện cho tinh thần, mỗi cái gì cũng tập luyện [14.49-15.00] đối với thanh niên thầy nhắc nước Việt Nam là quan trọng, bản sắc Việt Nam là quan trọng, tinh thần Việt Nam là quan trọng, mình thương mấy cái đó biết mấy cái đó mà tự nhiên hành động [16.48-16.55]văn hóa Việt Nam làm văn hóa chủ, văn hóa nước ngoài là văn hóa khách [17.41-17.50]không phải nói Việt Nam cái gì cũng hay nhưng phải biết tự hào với những cái hay của Việt Nam, tự tin vào sức sống tiềm tàng của dân tộc.
Các bạn độc giả thân mến, mỗi dòng chữ, mỗi lời tâm sự trong cuốn sách “Những câu chuyện về trái tim” chứa đựng những bài học cuộc sống chân tình của GS Trần Văn Khê như những sợi tơ vàng óng ánh quý báu được con tằm vất vả rút ruột kéo ra truyền lửa nhiệt huyết những tinh hoa quý báu nhất của cả cuộc đời dành trọn cho tình yêu với âm nhạc truyền thống dân tộc đến với những người trẻ của đất Việt thân yêu. Cuốn này này xứng đáng trở thành sách gối đầu giường dành cho tất cả chúng ta. -HẾT-
Lê Ngọc Hân
Phát trên đài AM 610 MHz vào 17g30 ngày 27/07/2010 chương trình Tạp chí âm nhạc, bản phát thanh có chỉnh sửa vài chi tiết nhỏ.
GS Nguyễn Văn Tuấn: Thư gửi Bộ Y tế Úc xin viện trợ Vaccine phòng covid
Ngày 26-7-2021 Hôm nay nhận được một lá thư từ Bộ Y tế Úc, với một chút hi vọng về chuyện vaccine. (xem thư đính kèm email) Các bạn có lẽ c...
-
Đáp án bắt chữ câu 1. BÁO CÁO Đáp án bắt chữ câu 2. BA HOA Đáp án bắt chữ câu 3. CUNG CẦU Đáp án bắt chữ câu 4. CA DAO Đáp án bắt chữ câu...
-
Forum Dzogame bắt phải có 50 post trở lên mới được post link, hình nên up ở blog luôn cho tiện Bấm Ctrl + F để tìm quái bạn cần Bá...
-
Vị trí túi của Thiết Đan Hoa ở Trịnh Châu (nhận quest ở Tế Nam, chạy về Trịnh Châu đánh đống đá kế bên xác chết). Tọa độ 513 466 Võ Lâ...