Thứ Ba, 7 tháng 10, 2008

Những người phụ nữ trong đời giáo sư Trần Văn Khê

Sống xa quê nhà hơn nửa thế kỷ, nhưng dường như VN chưa bao giờ xa lạ với giáo sư Trần Văn Khê. Ông yêu đất nước bằng tình yêu máu mủ, ruột thịt, gắn bó với quê hương từ những món ăn thường ngày tự nấu, đến âm nhạc dân tộc mà ông dành cả đời nghiên cứu, bảo tồn...

Nhưng còn có một góc đời thường khác, đó là những người phụ nữ VN mà ông đã gắn bó, thương yêu, tri âm, tri kỷ... Một buổi chiều muộn trong căn nhà màu trắng số 32 Huỳnh Đình Hai, TP.HCM - TNTS được ông chia sẻ những thầm kín nơi cõi lòng.

Ước mơ của tôi đã thành hiện thực

* Khi biết cháu đã hẹn và sẽ được gặp bác, một người bạn cho cháu biết một thông tin: Giáo sư Trần Văn Khê từng đóng phim? Xin bác kể về chuyện thú vị đó được không?

- Tôi phải nói ngay, tôi đóng phim là một sự bắt buộc trong cuộc đời. Đó là thời gian làm tiến sĩ - 1956, chỉ còn 2 năm nữa là bảo vệ luận án mà tiền bạc thì thiếu thốn nên phải đi đóng phim. Khi ấy ông đạo diễn đi tìm một diễn viên vai người cai quản trại tù binh Nhật trong phim Cuộc đời tôi bắt đầu từ Mã Lai lấy tứ từ một cuốn tiểu thuyết do người Australia viết thời kỳ bị Nhật đô hộ. Ông đi khắp nước Anh để tìm một người Nhật như vậy nhưng không có, tôi cùng thử vai với 27 người khác mà cuối cùng người ta thấy tôi Nhật hơn cả người Nhật nên được ký hợp đồng ngay.

Số tiền đóng phim đã giúp tôi trong 2 năm liền không phải làm gì. Mỗi ngày tôi được trả 50 bảng cộng thêm 12 bảng tiền ăn. Trừ tiền thuế phải trả tôi còn lại 30 bảng. Tính mỗi ngày đóng phim đủ để ăn 600 bữa. Mà tôi đã đóng trong12 ngày liền. Nhưng với tôi, đóng phim chỉ là phương tiện để sống chứ không phải là cứu cánh. Tôi còn lồng tiếng cho hàng trăm phim bên Pháp. Có lẽ vì phản xạ của tôi rất nhạy, không bị lỡ nhịp miệng của diễn viên, tôi lại có thể lồng tiếng cho nhiều nhân vật.

Tôi làm lồng tiếng phim khoảng 2 - 3 năm nhưng đóng phim thì không nhiều, chỉ một phim Pháp và một phim Anh. Tôi không mê điện ảnh, nên chẳng bị ảnh hưởng nào từ nó hết và không có bộ phim nào làm tôi say mê để thay đổi cuộc đời. Tôi chỉ thích xem nhất là phim về tiểu sử các nhạc sĩ nổi tiếng thế giới. Đó là những người tôi kính trọng nhất nên muốn xem cuộc sống của họ như thế nào. 

* Về VN đã 2 năm, bác thấy cuộc sống hiện tại như thế nào ạ? 

- Trong 2 năm nay, dường như cuộc đời tôi suốt mấy chục năm qua đến bây giờ đã được hưởng điều mà con người ít dám nói tới, đó là hạnh phúc. Tôi từng ước mơ có ngôi nhà trưng bày các tư liệu nghe nhìn tôi thích và khu vườn với những cây hoa. Bây giờ mỗi sáng thức dậy tôi thấy có tia nắng ấm của sự sống ở VN, mở đài phát thanh, truyền hình là tiếng Việt, mở sách đọc tiếng Việt, ăn món ăn Việt, rồi nói tiếng Việt với mọi người.

Tôi đã đi, đã được học, nghiên cứu sâu sắc những nét giá trị của văn hóa VN để giới thiệu cho bạn bè quốc tế, bây giờ về đây để dạy cho các học trò của tôi. Tất cả những cái gì hay về mặt nghệ thuật mà tôi đã chắt lọc để làm giàu, bổ sung cho âm nhạc VN. Tôi đem được hết các hiện vật gắn với cuộc sống của tôi về đây, ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai này sẽ trở thành nhà trưng bày sau khi tôi ra đi mãi mãi. Tôi yên tâm lắm, ước mơ của tôi đã thành hiện thực.

* Thưa, bác đang thấy hạnh phúc nhưng có điều gì bác thấy chưa hài lòng mỗi khi phải ra khỏi nhà? 

- Có nhiều đấy, nếp sống văn hóa ngày xưa mất đi nhiều lắm rồi. Chúng ta đã hội nhập nhưng bất kỳ ai đến đây mà nhìn giao thông VN thì thấy thật hỗn loạn. Qua đường là cả một sự nguy hiểm, mạnh ai nấy chạy, tự do quá mức. Đó là những người không biết tự do của mình còn phải bị giới hạn bởi tự do của người khác. Đi vào rạp hát hay phòng hòa nhạc thì tôi buồn vô cùng.

Tôi thấy người VN mình đến không nghe nhiều, nghe một cách xao lãng, nói điện thoại, đọc báo, nói chuyện với nhau hay thậm chí là ăn uống và cuối cùng không vỗ tay hoặc vỗ tay lẹt đẹt hai ba tiếng. Rõ ràng sự cảm thông giữa người nghe và người diễn bị mất đi. Người nghệ sĩ sẽ cảm thấy rất thất vọng.

Tôi sợ người nước ngoài khi đến đây họ sẽ thấy dường như người VN chưa có văn hóa nghe nhạc. Hay là những cuộc hội thảo được làm không chu đáo, có khi giấy mời đến tay tôi thì hội thảo đã diễn ra được vài buổi. Người đến dự thì không đúng giờ, các bài diễn văn nhạt và không đủ tầm... Nhạc truyền thống chưa được coi trọng nên giới trẻ dường như đang quay lưng lại.

* Với hơn 50 năm sống ở Pháp, bác có nhận định gì về quan điểm sống của người phương Tây và ở VN?

- Tôi sống ở Pháp trên 55 năm, khi đến tôi ở nhà một người Pháp và được tiếp đãi rất nồng hậu nhưng họ vẫn giữ giới hạn lắm. Họ tôn trọng tự do của khách và đồng thời cũng tôn trọng tự do của mình. Bởi vậy mà dù sống với nhau trong một nhà nhưng ít có giao tiếp gần gũi. Có khi mình đau ốm họ cũng không hay.

Mặc dù người Pháp là người có lễ độ, văn hóa và ít kỳ thị chủng tộc hơn so với nhiều nước khác. Riêng đối với VN thì họ càng gần gũi thân mật. Nhưng ở VN tình người mạnh hơn rất nhiều. Đi ra đường, có người gặp nhận ra quen là họ chào hỏi: “Thưa bác mới về”. Người VN mình gặp ít khi lạnh lùng càng không kỳ thị.

Trước đây, khi tôi còn ở VN, là người Nam trọ học ở nhà người Bắc, Tết đến cũng được tham dự như người nhà, được xem hoa thủy tiên nở... Dường như với người Bắc, người Nam như hiện thân của sự phóng khoáng, gần gũi, cởi mở và sẵn lòng chia sẻ. Tình đồng bào rất đậm đà.

Tôi là người từng tha hương, cảm được cái thiếu nhiều sự nồng ấm của tình người với nhau nơi đất khách. Về VN, thậm chí khi tôi vào bệnh viện xem mạch, nhiều bệnh nhân cũng đứng lên chào, bác sĩ đón tiếp nồng nhiệt. Học trò đến bạn bè đều thân thiện, đúng là cái ấm trong tình thương, trong không gian dân tộc. 

Phụ nữ VN như hoa quỳnh, hoa thuỷ tiên

* Theo bác, những người phụ nữ VN ở trong nước và đã ra nước ngoài sống có điểm gì giống và khác nhau? 

- Người phụ nữ VN đi đâu cũng luôn giữ bản chất e dè, kín đáo, dịu dàng. Khi họ ra ngoài rồi, họ cũng thích nghi lắm, họ cũng nhanh nhẹn tháo vát như người phương Tây. Tôi là người thích VN từ xương tủy tôi thấy người VN có nét đẹp vô cùng về sự mảnh mai dịu dàng. Đối với tôi, cá tính của người VN nó khác với người phương Tây, nó kín đáo lắm. Tôi coi người phụ nữ như đóa hoa. Người Pháp đẹp rực rỡ sáng trưng thì hoa VN như hoa thủy tiên, hoa quỳnh nở kín đáo hương kín đáo, khó thấy. 

* Bác có gia đình từ rất sớm, năm 22 tuổi, nhưng nghe đồn, bác cũng có rất nhiều người phụ nữ thương mến... Bác có thể chia sẻ với độc giả của TNTS được không?

- Nếu nói thực, tôi chỉ là một người nghiên cứu nhưng tâm hồn sẵn có cái nhạy cảm với thiên nhiên nên cũng có nhiều người thương mến. Nói rõ thì khó lắm khi quá vãng đã qua. Cũng có những hẹn ước mà chỉ là chuyện riêng tư, không thể dễ dàng nói ra cho   người khác biết.

Tôi chỉ có thể nói tôi cũng đã gặp nhiều người tri kỷ tri âm. Nhưng dường như với tôi, những người tri kỷ, tri âm ấy có duyên mà chưa có tình. Tôi nhớ có lần ở Canada, có mấy người phụ nữ tập hợp nhau lại mời tôi đến ăn uống rồi làm thơ trêu tôi như thế này:

Một phút yêu nhau để lưu sầu vạn kiếp
Bao hồng nhan tri kỷ thoáng mây bay
Nhạc trà thơ là tình yêu thắm thiết
Duyên quê hương chiếm trọn trái tim này…

Tôi công nhận họ đúng bởi lẽ đúng là có nhiều người phụ nữ thương tôi, tuy nhiên có người hỏi: “Nếu mổ trái tim Trần Văn Khê ra thì sẽ thấy gì?” Tôi nói: “Chắc chỉ có hai chữ: Âm nhạc” bởi thế tôi mới họa lại bài thơ của mấy người bạn kia: 

Thật không ngờ đã lưu sầu vạn kiếp
Vì giống nòi chim lạc vẫn còn bay
Vì quê hương quên tình yêu tha thiết
Cảm ơn người thấy trọn trái tim này
Hồn gặp hồn sao phải lưu sầu vạn kiếp,
Cánh chim bằng chưa mỏi vẫn còn bay,
Xin nhớ lại những phút yêu tha thiết
Nhớ mà thương chi nhẹ trái tim này.

* Nhưng bài thơ kia có ý trách ngầm bác là người... đa tình, phải không ạ? 

- Đa tình thì có thể nhưng rất may là tôi không phải là người bạc tình và cũng chưa bao giờ cùng lúc có hai ba người. Chỉ có người này đi qua người khác đến. Cũng chưa có người phụ nữ nào oán trách tôi, khi chia tay chúng tôi đều giữ lại được tình bạn. Thực ra điều này khó mà không khó.

Bởi lẽ trong suốt cuộc yêu tôi không có gian dối, gạt tình người ta bao giờ. Chia tay bao giờ cũng có những lý do chính đáng. Tôi có lý trí lắm, ngay cả trong chuyện tình cảm. Ngày xưa, trước khi tôi đi xa nhà, cô tôi đã nói: “Tiếng đàn của con tình lắm, nếu có người con gái nào vì cảm tiếng đàn của con mà lỡ cuộc  đời của họ thì con phải tránh xa. Nếu người đó là người có gia đình thì con càng không được vì tiếng đàn của mình mà làm tan vỡ gia đình họ. Không được yêu gái làng chơi vì gia đình ta không thể có con dâu đã từng làm vợ khắp người ta. Khi còn trẻ chỉ nên chăm chút vào việc học chứ không để việc tình cảm lấn át lý trí”.

* Vậy còn bác Nguyễn Thị Sương, người bạn gái học cùng lớp Triết, Trường Pétrus Ký - người phụ nữ đã kết hôn với bác năm bác 22 tuổi thì sao ạ?

- Từ khi tôi và mẹ mấy đứa con tôi xa nhau vì hoàn cảnh, thì tôi vẫn tôn trọng quý mến, về VN tôi vẫn thỉnh thoảng ghé thăm. Tôi và bà ấy gặp nhau, yêu nhau nhưng lấy nhau thì cuộc sống khác. Khi đó tôi nhận ra tôi không chỉ là người đàn ông dành cho gia đình nữa, tôi có khao khát với sự nghiệp của tôi.

Dù chia tay đã lâu, với bà Nguyễn Thị Sương, tôi và bà ấy vẫn như những người bạn tốt. Khi quyết định kết hôn, là cần một người phụ nữ để gia đình tôi có người nối dõi, người phụ nữ ấy phải chịu ở nhà nuôi con khi tôi đi vắng.

Tôi biết ơn nhà tôi đã chịu chấp nhận điều đó. Để chung sống, quan trọng nhất là tình thương chứ không phải tình yêu. Thương cả vật chất bên ngoài lẫn cái nội tâm bên trong. Không có ghen tuông, không có làm khó cho người chồng để mất đi những hòa khí. Người vợ VN nào dường như cũng sẵn tình thương bao dung và đầy tin cậy ấy.

* Nhưng chắc chắn sẽ có một người phụ nữ để lại dấu ấn và sự tiếc nuối sâu sắc trong cuộc đời bác. Bác có thể tiết lộ một chút xíu về người đó không ạ?

- Người phụ nữ cuối cùng mà tôi đã không được chung sống có lẽ là người tôi lưu luyến nhất. Đó là một học trò cũ của tôi rồi thành bạn tri âm tri kỷ. Tôi còn giữ những hình ảnh rất đẹp về cô ấy, quen từ khi ở Hà Nội, rồi xa nhau, sau này gặp lại, thương mến nhau. Cô ấy nói được tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Hán.

Cô ấy nấu ăn rất ngon mà tôi thích ăn ngon. Người phụ nữ ấy may vá rất giỏi, lại nói chuyện dịu dàng lễ phép. Năm 1997, cô ấy đã bị bệnh qua đời, tôi đã cực kỳ đau khổ. Nhưng trời cho số ngày tôi được ở bên cô ấy mà có tình cảm với nhau vừa đúng 100 ngày. Tôi thấy thế cũng là nhiều cho tình thương mến. Tôi đã viết mấy câu điếu trong lễ tang của cô:

Tử sanh dẫu biết luật vô thường
Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương
Những tưởng phượng loan về một tổ
Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường.
Điếu em chắp bút lau dòng lệ
Tiễn bạn ôm đàn đốt nén hương
Cầu nguyện Phật trời mau tế độ
Hồn em siêu thoát tận Tây phương.

* Và từ đó đến nay...?

- Tôi là giáo sư, tôi có nhiều học trò, tôi cũng có cảm tình riêng với những học trò đặc biệt có năng khiếu, đồng thanh tương ứng đồng khí tương cầu mà. Nhưng tôi chỉ nghĩ thoáng qua, nếu mình gặp họ từ khi còn trẻ chứ không có ý định ràng buộc ai nữa. Mấy chục năm nay tôi sống cô độc. Cô độc mà không cô đơn:

Cuộc sống cô đơn dẫu kéo dài
Vẫn tìm tiên cảnh dưới trần ai
Gió xuân luôn đón nơi phong các
Trăng hạ thường xem chốn nguyệt đài
Vững bám hồn thơ xa thế tục
Nhẹ nâng cánh hạc đến thiên thai
Cuộc đời cô độc nhờ thơ nhạc
Vui kém chi người vẹn túc mai.

Tôi đã ở buổi hoàng hôn của cuộc đời, tôi không muốn làm ai khổ nữa, vì ngày sẽ chia tay vĩnh viễn không xa. Hơn nữa tôi còn quá nhiều việc để làm, mà quỹ thời gian thì ngắn lại, tôi không thể dành cho người khác được nữa.

Tất nhiên như mọi người, tôi cũng có khi thấy đêm dài, có những buổi uống trà một mình để thấy sự cô đơn. Những lúc đó lý trí của tôi như một cái lan can cầu giúp tôi không bị té xuống sông, như kim chỉ nam giúp tôi tránh lạc đường. Khi đó thơ cũng chỉ là sự tự an ủi, chứ mình không thực sự thanh thản như thế đâu...

Giáo sư Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại tỉnh Vĩnh Long, là con cả của một gia đình có 4 đời nhạc sĩ. Lên 6 tuổi biết đàn kìm (đàn nguyệt), 8 tuổi đàn cò (đàn nhị), 12 tuổi đàn tranh, đánh trống nhạc... Năm 1941, thi đậu thủ khoa Tú tài khoa Triết. Sang Pháp năm 1949, học tại trường Đại học Sorbonne ở Paris vào năm 1958. Năm 1949, học tại Viện Khoa học chính trị Paris. 1951, tốt nghiệp Khoa học chính trị, Khoa giao dịch quốc tế. Từ 1954 đến 1958, học Đại học Văn Khoa Paris, Viện Âm nhạc học. 1958, ông là người Việt đầu tiên đỗ tiến sĩ khoa Âm nhạc học đề tài luận án: “LaMusique vietnamienne traditionnelle” (Âm nhạc truyền thống Việt Nam). Sau hơn 50 năm ở nước ngoài, hiện tại ông về sống tại 32 Huỳnh Đình Hai, TP.HCM - nơi này sẽ là bảo tàng lưu giữ sách và các loại nhạc cụ dân tộc của giáo sư khi ông đi xa.

Giáo sư Trần Văn Khê từng được Giải thưởng lớn Hàn lâm viện đĩa hát Pháp, Giải thưởng Đại học Pháp, Giải thưởng Dân tộc nhạc học năm 1960 và 1970, năm 1975 Tiến sĩ danh dự về Âm nhạc Đại học Ottawa (Canada). Năm 1981, Giải thưởng lớn về Âm nhạc UNESCO và Hội đồng Quốc tế âm nhạc. Năm 1991, Huân chương Nghệ thuật và Văn chương Bộ Văn hóa Chính phủ Pháp tặng. Năm 1995, Giải thưởng quốc tế về Dân tộc nhạc học KOIZUMI Fumio (Nhật). Năm 1999, Tiến sĩ danh dự về Dân tộc nhạc học Đại học Moncton (Canada).

Lê Thị Thái Hòa (thực hiện)

Ngày 28.2.2007

http://www.thanhnien.com.vn/tnotuansan/Pages/200709/183236.aspx


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét