Chủ Nhật, 5 tháng 10, 2008

GS Trần Văn Khê và những ngôi nhà

Sau 56 năm sống ở nước ngoài, GS Trần Văn Khê về định cư tại Việt Nam năm 2005. TPHCM đã trao ngôi nhà 32 Huỳnh Đình Hai cho ông ở và bảo quản, trưng bày hiện vật văn hóa, âm nhạc dân tộc.

Đến nay, ngôi nhà trên đất Việt chỉ gắn bó với GS mới hơn 3 năm, vậy mà đau đáu biết bao tâm hồn, tình cảm. GS Trần Văn Khê chia sẻ:

Tôi luôn mong ước được về Việt Nam, có một ngôi nhà không chỉ là nơi để ở mà còn là nơi để làm việc. Đó là nơi tập trung và giữ gìn những tư liệu mà cả đời tôi gom góp được, để sau này cho thế hệ trẻ Việt Nam đến xem, để các bạn có thể đối thoại với các nền văn hóa âm nhạc trên thế giới.

Tôi nhớ có một lần trên đất Pháp, buổi đêm, sau bữa tiệc ở nhà một người bạn, tôi mở cửa bước ra vườn. Chợt nghe thoang thoảng mùi hoa dạ lý hương, tự nhiên ứa nước mắt, thấy lòng mình mênh mang nỗi buồn nhớ quê hương.

Ước muốn có một ngôi nhà riêng với tôi là quá xa vời cho đến năm 2003, TPHCM hứa dành cho tôi một căn nhà và đến tháng 10/2005, căn nhà đó đã thành hiện thực.

Bây giờ nhà tôi, cạnh cửa sổ phòng ngủ và phòng làm việc có trồng một cây dạ lý hương. Nhà người Việt thường "phía trước trồng cau, phía sau trồng chuối", nhà tôi cũng vậy.

Trước sân, có một khu vườn nhỏ trồng những cây chuối, cây trúc tượng trưng cho người quân tử, hoa dâm bụt 3 màu, bông trang, hoa giấy, hoa mai. Đó là những món quà của một người bạn tặng tôi.

Rồi đây hoa sẽ nở, mỗi sáng, mỗi chiều tôi sẽ được thăm thú vườn hoa, tưới cây, lặt lá sâu. Có thể nói căn nhà hôm nay là căn nhà lý tưởng, căn nhà mơ ước - đã thành hiện thực - của tôi.

Ở xứ người, nhà nhìn lên gặp nóc, nhìn ra thấy lầu, về đây, ra khỏi cửa là chân đạp đất, đầu đội trời… thoải mái vô cùng. Với căn nhà này tôi đã thực hiện mơ ước của đời mình về một căn nhà Việt.

Biết bao kỉ niệm về học trò, về bè bạn đến thăm, chia sẻ vui buồn. Tôi hạnh phúc với từng hình ảnh trong lưu niệm, trong tâm khảm và bình yên, hạnh phúc biết bao với chốn này.

Sang Pháp, một thời gian dài, tôi thuê phòng trọ nay đây mai đó, ở từ khách sạn này qua khách sạn khác. Căn hộ chung cư ở lầu 9 mà tôi mua bên Pháp vừa là một phòng thí nghiệm vừa là thư viện nhỏ, chứa đầy ắp những tư liệu hơn là nhà ở.

Nhưng tôi vẫn trìu mến, đầy nhung nhớ khi nói về nó với hai chữ "nhà tôi". Căn nhà đó quy tụ tất cả hiểu biết, tư tưởng của tôi suốt 40 năm, gần gũi như máu thịt của mình. Đó cũng là nơi tôi gặp gỡ bạn bè, đàm đạo nhạc thơ, giảng dạy học trò.

Nhà gần gũi và thương yêu đến độ khi chia tay về Việt Nam, tôi đã ghi lại trong từng thước phim những góc phòng, ban công, chiếc bếp… Ở căn nhà đó, tâm hồn tôi đã hạnh phúc với tình yêu, tình bạn keo sơn cùng biết bao kỷ niệm êm đềm.

Người bạn của tôi là một học trò cũ, biết và gắn bó với nhau trên 50 năm. Vậy mà sống hạnh phúc bên nhau, tổng cộng chỉ đúng 100 ngày trong 3 năm, thì người đó ra đi. Ngày mất của bạn, trong  căn nhà đó tôi thắp nén nhang, làm bài thơ điếu bạn…

Tử sanh dẫu biết luật vô thường

Nhưng khó ngăn dòng lệ tiếc thương

Những tưởng phượng loan vầy một tổ

Đâu ngờ cầm sắt rẽ đôi đường

Điếu em, chấp bút, lau dòng lệ

Tiễn bạn, ôm đàn, đốt nén hương

Cầu nguyện Phật, Trời mau tế độ

Hồn em siêu thoát tận Tây phương

Nhưng dĩ nhiên, nhớ nhất vẫn là căn nhà thời thơ ấu. Với người Việt, nhà quan trọng lắm, trang trọng lắm và thương yêu vô cùng! Nhà không phải  là một hình thức vật chất có tường, có nóc, mà nhà mang giá trị tinh thần gắn bó với phần đời, phần hồn của mỗi con người. Người Việt Nam có câu "an cư lạc nghiệp". Khi con người trưởng thành, chẳng những "nên danh nên phận" mà còn phải "nên cửa nên nhà" đó sao?

Cuộc đời dâu bể, bôn ba, tôi từng trải qua nhiều nơi ở nhưng khi nói về căn nhà thời thơ ấu là nước mắt cứ rưng rưng… Căn nhà ấu thơ của tôi nghèo lắm, lợp lá, mái tranh, vách tre nứa. 

Sau nhà là cây mận và mấy khóm xương rồng. Anh em tôi đi học xa, mỗi lần về nhà lại viết lên lá xương rồng những lời thương yêu, nhắn nhủ, nhắc nhở, những câu thơ, văn vụng về. Lá khô đi nhưng những dòng chữ vẫn nguyên vẹn, đứa này về lại đọc được lời nhớ của đứa kia gửi lại.

Căn nhà đó cũng là nơi lần đầu tiên cho tôi hiểu thế nào là sức mạnh của nghệ thuật. Cha tôi thuở đó là một danh cầm và cũng có một số bạn đồng điệu. Khi nào có cô Sáu Ngọc ở làng Kim Sơn đến Vĩnh Kim, ca bài Tứ Đại Oán mà Ba tôi đờn kìm dây Tố Lan phụ họa, thì  đông đảo người làng đến nghe chật nhà.

Tiếng ca hay quá, mọi người mê mải nghe đến độ… quên cả việc họ đang dựa vào bức vách tre, đến làm đổ vách!!! Tôi ngạc nhiên về sức hấp dẫn của dòng nhạc dân gian.  Cũng trong căn nhà đó,  tôi hiểu thế nào là sanh ly tử biệt, là tình cảm ruột thịt thân thương.

Tôi nhớ rõ dáng ông nội tôi. Ông cháu thương nhau lắm, đến nỗi, khi ông mất đi, tôi đứng bên bàn thờ khóc suốt 3 ngày. Gia đình bắt  buộc phải gởi tôi lên Sài Gòn cho nguôi nhớ. Nhà đó cũng là nơi tôi chứng kiến sự chào đời của đứa em trai: Trần Văn Trạch.

Cả thời ấu thơ anh em tôi làm gì cũng chung với nhau: từ khi ăn, lúc  ngủ, thậm chí lúc đi… cầu tiêu!!  Cũng tại nhà đó tôi đã tiễn cha và sau đó là Cô Ba tôi về nơi chín suối, với  nỗi đau xé lòng không sao tả xiết…

Theo tôi, nếu như căn nhà dầu đẹp, nhưng chỉ đơn thuần là tường, là mái, là khối vật chất, thì sẽ không đủ để được gọi là nhà. Trong văn hóa, nghệ thuật ngoại hình phải đi đôi với nội dung, có xác, thì phải có hồn.

Những căn nhà đã mang lại và lưu giữ từng phần hồn của cuộc đời tôi cũng như tất cả dĩ vãng của tôi. Tôi nhớ thương dĩ vãng, nhưng không nuối tiếc với dĩ vãng. Tôi chỉ vui sống với hoàn cảnh hiện tại và cảm thấy rất hạnh phúc.

Trần Văn Khê sinh ngày 15/6/1921 trong một gia đình 4 đời làm nhạc sĩ. Ông thể hiện năng khiếu âm nhạc từ nhỏ nhưng năm 1942 lại ra Hà Nội học y khoa. Năm 1949, ông sang Pháp du học.

Tháng 6/1958, ông giành học vị Tiến sĩ môn Nhạc học của Đại học Sorbonne, Pháp. Từ năm 1963, ông dạy trong Trung tâm Nghiên cứu nhạc Đông phương, dưới sự bảo trợ của Viện Nhạc học Paris (Institut de Musicologie de Paris).

Ông là thành viên của Viện Khoa học Pháp, Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm châu Âu về Khoa học, Văn chương và Nghệ thuật. Ông là thành viên của rất nhiều hội nghiên cứu âm nhạc quốc tế, thành viên và Chủ tịch Hội đồng Khoa học của Viện quốc tế nghiên cứu âm nhạc bằng phương pháp đối chiếu (International Institute for Comparative Music Studies - Đức). 

Ông giành nhiều giải thưởng có uy tín, trong đó có giải thưởng âm nhạc của UNESCO (1981), và được Nhà nước ta tặng Huân chương Lao động hạng nhất (1999), Huy chương Vì Văn hóa dân tộc (1998).

Ông cũng là người đã hiến tặng cho TP Hồ Chí Minh nhiều hiện vật quý, trong đó có nhiều loại nhạc cụ dân tộc và tài liệu âm nhạc.

Bạch Dương ghi

Chủ Nhật ngày 5 tháng 10 năm 2008

Báo Tiền Phong

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=139218&ChannelID=7


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét